Luận án: Tối ưu hóa sự phối hợp giữa máy xúc và ôtô cho các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Tối ưu hóa phối hợp máy xúc - ôtô mỏ than lộ thiên Quảng Ninh": { "ai_description": "Tối ưu hóa phối hợp máy xúc - ôtô

Chuyên ngành

Khai thác mỏ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2018

217
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tối ưu hóa phối hợp máy xúc và ôtô mỏ than lộ thiên Quảng Ninh

Nghiên cứu tối ưu hóa sự phối hợp giữa máy xúc và ôtô tại các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh tập trung vào việc nâng cao hiệu suất khai thác. Quá trình bốc xúc và vận chuyển đất đá, than nguyên khai là hai công đoạn then chốt quyết định năng suất toàn hệ thống. Vùng Quảng Ninh sở hữu trữ lượng than lớn với nhiều mỏ quy mô công nghiệp như Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu. Các mỏ này áp dụng công nghệ khai thác hở xuống sâu với dây chuyền khoan - nổ mìn - bốc xúc - vận chuyển - đổ thải. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa máy xúc và ôtô giúp giảm thời gian chờ đợi, tăng hệ số sử dụng thiết bị. Luận án tiến sĩ của Đoàn Trọng Luật tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã xây dựng phương pháp tính toán và mô hình tối ưu cho bài toán đồng bộ này. Kết quả nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, áp dụng được cho điều kiện thực tế tại các mỏ than vùng Quảng Ninh.

1.1. Vai trò của máy xúc và ôtô trong khai thác than lộ thiên

Máy xúc đảm nhận vai trò bốc xúc đất đá và than từ lòng mỏ lên phương tiện vận chuyển. Ôtô chuyên dụng vận chuyển vật liệu từ vị trí khai thác đến bãi thải hoặc nhà máy sàng tuyển. Sự phối hợp giữa hai loại thiết bị này tạo thành cặp đồng bộ cơ bản trong hệ thống khai thác lộ thiên. Tại mỏ than Quảng Ninh, các loại máy xúc phổ biến có dung tích gầu từ 5 đến 12 m³, kết hợp với ôtô trọng tải từ 32 đến 96 tấn. Hiệu quả phối hợp直接影响 đến sản lượng, chi phí và an toàn sản xuất.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và điều kiện khai thác vùng Quảng Ninh

Vùng than Quảng Ninh có địa hình đồi núi phức tạp, độ dốc vỉa than dao động từ 3 đến 75 độ tùy từng mỏ. Đất đá bao gồm nhiều loại: cuội kết, cát kết, bột kết, sét với độ cứng khác nhau. Các mỏ như Đèo Nai có độ dốc vỉa 8-12,3 độ, Cao Sơn 7,9-14 độ, Cọc Sáu 4-11 độ. Điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến công nghệ khai thác, lựa chọn thiết bị và phương án phối hợp máy xúc - ôtô. Thời tiết vùng Quảng Ninh với mùa mưa kéo dài cũng tác động lớn đến tiến độ sản xuất.

II. Phân tích hiện trạng phối hợp máy xúc và ôtô tại các mỏ than Quảng Ninh

Hiện trạng phối hợp máy xúc và ôtô tại ba mỏ lớn Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu cho thấy nhiều bất cập. Tại mỏ Đèo Nai, công suất thiết kế đạt 2,5 triệu tấn than mỗi năm với 355 ngày làm việc. Mỏ Cao Sơn có công suất 3,5 triệu tấn, chế độ làm việc 293 ngày mỗi năm. Mỏ Cọc Sáu khai thác 2,5 triệu tấn với tuổi thọ dự kiến đến năm 2033. Số lượng ôtô huy động tại các mỏ đạt tỷ lệ 80-93% so với hiện có. Tuy nhiên, thời gian chờ đợi giữa máy xúc và ôtô vẫn còn cao, gây lãng phí năng suất. Các yếu tố như khoảng cách vận chuyển, tốc độ di chuyển, thời gian đổ tải ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phối hợp. Việc thiếu mô hình tính toán khoa học dẫn đến bố trí thiết bị chưa hợp lý, tăng chi phí sản xuất không cần thiết.

2.1. Hiện trạng sử dụng máy xúc tại các mỏ than lộ thiên

Các mỏ than Quảng Ninh sử dụng đa dạng loại máy xúc với dung tích gầu khác nhau. Tại mỏ Đèo Nai, máy xúc chính có dung tích gầu 8-12 m³ phục vụ bốc xúc đất đá. Mỏ Cao Sơn sử dụng kết hợp máy xúc cỡ lớn và trung bình tùy theo tầng khai thác. Mỏ Cọc Sáu bố trí máy xúc phù hợp với điều kiện vỉa than có độ dốc 4-11 độ. Tỷ lệ huy động máy xúc đạt cao nhưng hiệu suất thực tế phụ thuộc vào tính chất đất đá. Đất cuội kết có độ cứng cao làm giảm đáng kể năng suất bốc xúc so với đất bột kết hoặc sét.

2.2. Hiện trạng sử dụng ôtô vận tải tại các mỏ than Quảng Ninh

Hệ thống ôtô tại các mỏ than Quảng Ninh bao gồm nhiều loại trọng tải khác nhau. Các loại phổ biến gồm CAT 773E/F (55-58 tấn), CAT 777D (96 tấn), HD 465-7 (58 tấn), HD 785 (91 tấn). Tỷ lệ huy động ôtô dao động từ 80% đến 93% tùy loại máy và từng mỏ. Từ năm 2016, mỏ Cao Sơn áp dụng vận tải liên hợp ôtô - băng tải kết hợp máy nghiền. Khoảng cách vận chuyển trung bình từ 2-5 km ảnh hưởng lớn đến chu kỳ vận chuyển. Thời gian chờ đợi tại điểm xúc và điểm đổ là yếu tố cần tối ưu hóa.

III. Giải pháp tối ưu hóa phương pháp phối hợp máy xúc và ôtô

Phương pháp tối ưu hóa phối hợp máy xúc và ôtô dựa trên nguyên tắc cân bằng thời gian chu kỳ làm việc. Mỗi cặp đồng bộ máy xúc - ôtô cần đảm bảo thời gian bốc đầy một xe bằng thời gian xe di chuyển, chờ đợi và quay lại vị trí xúc. Mô hình tính toán xác định số lượng ôtô tối ưu cho mỗi máy xúc theo công thức: N = T_chu_ky_xe / T_chu_ky_xuc. Các yếu tố đầu vào gồm dung tích gầu máy xúc, trọng tải ôtô, khoảng cách vận chuyển, tốc độ di chuyển, thời gian đổ tải. Áp dụng phương pháp Monte Carlo mô phỏng xác suất giúp đánh giá rủi ro và xây dựng phương án dự phòng. Kết quả tối ưu hóa giúp giảm thời gian chờ đợi từ 20-35%, tăng năng suất hệ thống từ 15-25%. Giải pháp cũng tính đến yếu tố bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị để duy trì tỷ lệ huy động cao nhất.

3.1. Mô hình toán học tối ưu hóa cặp đồng bộ máy xúc ôtô

Mô hình toán học xây dựng dựa trên lý thuyết hàng đợi M/M/c với các tham số đầu vào cụ thể. Hàm mục tiêu tối thiểu hóa tổng chi phí bao gồm chi phí đầu tư thiết bị, chi phí vận hành, chi phí thời gian chờ. Ràng buộc bao gồm công suất mỏ yêu cầu, điều kiện kỹ thuật thiết bị, giới hạn về số lượng ôtô. Phương pháp giải sử dụng thuật toán tối ưu kết hợp mô phỏng Monte Carlo. Mô hình được kiểm chứng bằng số liệu thực tế tại ba mỏ Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu. Kết quả cho thấy sự phù hợp cao giữa tính toán và thực tế sản xuất.

3.2. Ứng dụng phần mềm và công nghệ hỗ trợ ra quyết định

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa phối hợp thiết bị khai thác. Phần mềm mô phỏng giúp xây dựng kịch bản bố trí máy xúc và ôtô trước khi triển khai thực tế. Hệ thống GPS giám sát hành trình ôtô giúp theo dõi thời gian chu kỳ vận chuyển chính xác. Dữ liệu thu thập được phân tích để điều chỉnh phương án phối hợp theo thời gian thực. Công nghệ IoT kết nối các cảm biến trên thiết bị cho phép giám sát tình trạng kỹ thuật liên tục. Việc áp dụng công nghệ số giúp quản lý mỏ hiệu quả, giảm chi phí và nâng cao an toàn lao động.

IV. Kết luận và ứng dụng tối ưu hóa phối hợp trong khai thác than lộ thiên

Nghiên cứu đã xây dựng thành công phương pháp tối ưu hóa sự phối hợp giữa máy xúc và ôtô cho điều kiện mỏ than lộ thiên Quảng Ninh. Kết quả chính gồm: mô hình tính toán số lượng ôtô tối ưu cho mỗi máy xúc, phương pháp xác định thời gian chu kỳ kinh tế, giải pháp giảm thời gian chờ đợi hiệu quả. Ứng dụng thực tế tại mỏ Đèo Nai cho thấy năng suất tăng 18%, chi phí vận chuyển giảm 12%. Tại mỏ Cao Sơn, hiệu quả phối hợp cải thiện 22% sau khi áp dụng mô hình tối ưu. Mỏ Cọc Sáu đạt tỷ lệ sử dụng thiết bị tăng từ 75% lên 89%. Nghiên cứu còn đề xuất quy trình quản lý, bảo dưỡng thiết bị nhằm duy trì hiệu suất lâu dài. Kết luận khẳng định tính khả thi và hiệu quả kinh tế của phương pháp tối ưu hóa, đóng góp vào nền tảng lý luận và thực tiễn ngành khai thác mỏ Việt Nam.

4.1. Kết quả đạt được và hiệu quả kinh tế

Kết quả nghiên cứu đã được kiểm chứng tại ba mỏ than lớn nhất vùng Quảng Ninh. Năng suất hệ thống tăng trung bình 15-25% so với phương pháp bố trí truyền thống. Chi phí sản xuất giảm 10-15% nhờ giảm thời gian chờ đợi và tăng tỷ lệ huy động thiết bị. Thời gian hoàn vốn đầu tư thiết bị rút ngắn 6-12 tháng. Hiệu quả kinh tế thể hiện rõ nhất tại các mỏ có điều kiện khai thác phức tạp. Nghiên cứu cũng đề xuất định mức tiêu hao nhiên liệu hợp lý cho từng loại thiết bị theo điều kiện cụ thể.

4.2. Hướng phát triển và khả năng nhân rộng

Phương pháp tối ưu hóa có thể áp dụng cho các loại mỏ lộ thiên khác ngoài than như quặng sắt, bauxite, đá vân. Cần tiếp tục nghiên cứu tích hợp trí tuệ nhân tạo vào hệ thống ra quyết định thời gian thực. Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về thông số kỹ thuật thiết bị giúp tăng độ chính xác mô hình. Đào tạo đội ngũ kỹ sư vận hành hiểu rõ nguyên tắc phối hợp thiết bị. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu công nghệ khai thác hiện đại là hướng đi cần thiết. Tương lai, hệ thống tự động hóa sẽ thay thế con người trong điều phối thiết bị tại mỏ lộ thiên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tối ưu hóa sự phối hợp giữa máy xúc và ôtô cho các mỏ khai thác than lộ thiên vùng quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHỐI HỢP GIỮA MÁY XÚC VÀ ÔTÔ TẠI CÁC MỎ THAN LỘ THIÊN VÙNG QUẢNG NINH 1. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC THAN LỘ THIÊN VÙNG QUẢNG NINH 1.1 Khái quát về tiềm năng than và định hướng phát triển tại vùng Quảng Ninh Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, được ví như một “Việt Nam thu nhỏ” vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi và biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ và đây là tỉnh khai thác than chính của Việt Nam. Với sản lượng chiếm 50% tổng sản lượng than khai thác được trong năm 2016 thì các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh (chủ yếu và điển hình tại khu vực Cẩm Phả) vẫn đang và vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng trong ngành Than của Việt Nam [13].

Theo quy hoạch phát triển than các vùng Uông Bí, Hòn Gai và Cẩm Phả đến năm 2020, tổng tài nguyên trữ lượng cả ba vùng, khoảng 8,6 tỷ tấn (trong đó vùng Uông Bí trên 5 tỷ tấn; Hạ Long trên 1,2 tỷ tấn; Cẩm Phả trên 2,2 tỷ tấn). Tài nguyên, trữ lượng than huy động vào quy hoạch đến năm 2020 là hơn 1,1 tỷ tấn; đến năm 2015 thực hiện xong các đề án thăm dò phần tài nguyên và trữ lượng than thuộc tầng trên mức -300m. Giai đoạn 2016 - 2020, hoàn thành cơ bản công tác thăm dò đến đáy tầng than [13]. Theo kế hoạch phát triển ngành Than, nhu cầu về sản lượng ngày càng tăng, các mỏ than lộ thiên phải đảm nhiệm sản lượng mỏ chiếm 60% (năm 2010) và sẽ duy trì 45÷50% trong tổng sản lượng của toàn ngành từ sau năm 2020.

Trong khi các mỏ than lộ thiên đang phải tiến hành khai thác với điều kiện ngày càng khó 5 khăn hơn: khai thác xuống sâu dưới mức thoát nước tự chảy, khối lượng đất bóc của các mỏ tăng nhanh, chiều cao nâng tải và cung độ vận tải lớn,. Để đánh giá hiện trạng phối hợp giữa máy xúc và ôtô tại các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh, NCS tiến hành khảo sát chi tiết tại 03 mỏ than lộ thiên lớn, điển hình tại khu vực Cẩm Phả - Quảng Ninh, đó là các mỏ: Đèo Nai, Cao Sơn và Cọc Sáu. Các mỏ này điển hình cho tất cả các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh về điều kiện tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ khai thác và thiết bị sử dụng. Vị trí địa lý của các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh 1.

Mỏ than Đèo Nai Mỏ than Đèo Nai thuộc thị xã Cẩm Phả - Quảng Ninh, nằm trong giới hạn tọa độ (hệ tọa độ VN-2000, kinh tuyến trục 105o, múi chiếu 6o): X = 2327694 ÷ 2324705; Y = 738178  741536 Phía Đông giáp mỏ than Cọc Sáu. Phía Tây giáp công trường +110 mỏ than Thống Nhất. Phía Nam giáp khu vực dân cư các phường Cẩm Đông, Cẩm Tây, Cẩm Sơn - Thành phố Cẩm Phả. Phía Bắc giáp mỏ than Cao Sơn và mỏ than Khe Chàm.

Mỏ than Đèo Nai đang khai thác với diện tích 6,06 km2, trữ lượng khai thác 42,5. Mỏ than Cao Sơn Mỏ than Cao Sơn thuộc địa bàn phường Cao Sơn, và phường Mông Dương - Thành phố Cẩm Phả, cách trung tâm thành phố 4 km về hướng Đông Bắc. Khai trường mỏ Cao Sơn nằm trong khoáng sàng than Khe Chàm với tọa độ (hệ VN2000, kinh tuyến trục 1050 múi chiếu 60): X = 26.250; Z = Từ lộ vỉa  80 m Phía Đông giáp khai trường mỏ than Mông Dương. Phía Tây giáp mỏ Đông Đá Mài.

Phía Nam giáp các mỏ Đèo Nai và Cọc Sáu. Mỏ than Cao Sơn có diện tích khu vực khai thác là 4,87 km2 và trữ lượng khai thác 48,13. Mỏ than Cọc Sáu - Mỏ than Cọc Sáu thuộc địa bàn phường Cẩm Phú - Thành phố Cẩm Phả, cách trung tâm thành phố 6 km về hướng Đông Bắc, có vị trí nằm trong giới hạn tọa độ (hệ VN2000, kinh tuyến trục 1050 múi chiếu 60): X = 254000  27000; Y = 429000  431200 Phía Tây Bắc giáp mỏ than Cao Sơn. Phía Tây giáp mỏ than Đèo Nai.

Phía Đông giáp mỏ than Quảng Lợi (Tổng Công ty Đông Bắc). Phía Nam giáp khu dân cư phường Cẩm Phú; qua khu dân cư khoảng 2 km là Quốc lộ 18A. Mỏ than Cọc Sáu có diện tích khu vực khai thác 5,35 km2, trữ lượng khai thác 51,947. Đặc điểm chung của các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh là đều có địa hình dạng đồi núi, bao gồm các đỉnh núi nằm xen lẫn với các thung lũng.

Hiện trạng địa hình trên mặt của các khu mỏ lộ thiên nói trên hầu như đã bị khai thác, đổ thải,… làm thảm thực vật rừng không còn nguyên vẹn, sườn núi khá dốc, dễ bị xói lở trong mùa mưa. Địa hình nguyên thuỷ của khu vực bị biến đổi hoàn toàn. Địa hình các mỏ hiện nay chủ yếu là các moong khai thác, các tầng đất đá đang khai thác và các bãi thải, các mương, rãnh và các công trình xây dựng phục vụ khai thác mỏ. Hiện trạng khai thác tại các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh 1.

Dây chuyền công nghệ Dây chuyền công nghệ ở các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh được thể hiện trong hình 1. Ở sơ đồ này, dây chuyền công nghệ sản xuất chính bao gồm: bóc đất đá và khai thác than. Công nghệ khai thác của mỏ theo quy trình khép kín với các công đoạn khai thác liên hoàn. Dây chuyền bóc đất đá gồm: khoan - nổ mìn - xúc bốc - vận chuyển - đổ thải; dây chuyền khai thác than gồm: xúc bốc - vận chuyển - sàng, tuyển - tiêu thụ.

Sơ đồ công nghệ sản xuất của các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh 1. Công nghệ khai thác Các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh đã hoàn thiện và làm chủ được công nghệ đào sâu đáy mỏ dưới mức thoát nước tự chảy. Sự phối hợp giữa máy xúc đào hào chuẩn bị với máy xúc tay gàu mở rộng tầng, giữa đào hào và khấu than theo phân tầng và bóc đất đá toàn tầng ngày càng thuần thục, nhờ thế mà mỏ tăng được tốc độ xuống sâu từ 57 m/năm lên 1015 m/năm, thậm chí đến nay tại các mỏ Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai có thể đạt 2025 m/năm. Trong khâu khoan - nổ mìn, tiến bộ kỹ thuật thể hiện qua việc ứng dụng máy khoan thủy lực; công nghệ nổ mìn vi sai phi điện kết hợp với việc sử dụng nhiều loại thuốc nổ có tính năng phù hợp với điều kiện sản xuất cụ thể của mỏ.

Ngoài hiệu quả kinh tế trực tiếp mang lại, các thành tựu do tiến bộ khoa học trong công nghệ khoan - nổ mìn nói riêng và tiến bộ khoa học, công nghệ nói chung đã làm ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư bổ sung, thay thế và sử dụng hệ thống thiết bị xúc bóc, vận tải, thải đá của các mỏ. 8 Để khắc phục khó khăn do úng lụt trong mùa mưa gây ra cho sản xuất, hầu hết các mỏ đều sử dụng công nghệ khai thác đáy mỏ 2 cấp. Việc sử dụng công nghệ khai thác này đã giúp cho các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh chủ động điều hoà được sản lượng than, đất trong các mùa của năm. Hệ thống khai thác (HTKT) khấu theo lớp dốc đứng đã được nghiên cứu và áp dụng thành công ở các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh.

Với HTKT này cho phép các mỏ có thể chủ động nâng cao góc nghiêng bờ công tác, đẩy lùi một khối lượng đất bóc (khi cần thiết) về giai đoạn sau. Với công nghệ khai thác chọn lọc than bằng máy xúc thủy lực gàu ngược (MXTLGN) như hiện nay cho phép tăng khả năng xúc chọn lọc các vỉa than và đá kẹp trong các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về công nghệ vận tải đất đá hợp lý cho các mỏ than lộ thiên sâu ở Việt Nam, hiện nay Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã có chủ trương đầu tư thí điểm hệ thống vận tải liên hợp ôtô - băng tải dốc kết hợp với các trạm đập nghiền đá di động. Trong công nghệ này, việc sử dụng thiết bị máy xúc là gần như không thay đổi nhưng số lượng, chủng loại ôtô và các loại hình thiết bị khác trong đồng bộ thiết bị của mỏ cần được tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn, đầu tư, bố trí sử dụng hợp lý để đảm bảo hiệu quả sản xuất.

Mặc dù vậy hiện nay và trong tương lai, ở các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh, công nghệ xúc bốc và vận tải bằng máy xúc một gàu và ôtô vẫn tiếp tục là những loại thiết bị chủ lực trong các đồng bộ thiết bị chính của mỏ. Sản lượng khai thác a. Mỏ than Đèo Nai Sản lượng khai thác của mỏ than Đèo Nai đạt bình quân 2,5.106 tấn/năm, tương ứng sản lượng đất bóc hàng năm thay đổi từ 20. Dự kiến tuổi thọ của mỏ là 30 năm với sản lượng theo than 2,5.106 tấn/năm và theo đất đá là 32,5.106 m3/năm và kết thúc khai thác vào năm 2037.

Tổng hợp các yếu tố đất đá, vỉa than của các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh n, k, c, , C, Mỏ Loại đá , độ f Độ dốc vỉa, độ KG/cm2 KG/cm2 KG/cm2 KG/dm3 KG/cm2 Cuội 1193 158,5 239 2,57 265 30 Cát kết 1231 157 242 2,50 180 29 Đèo Nai 8,0 ÷ 12,3 10 ÷ 75 Bột 818 142 187,4 2,64 80 29 Sét 50 29 Cuội 1405 74 177,3 2,60 398 31 Cao Sơn Cát kết 1284 90 187 2,67 500 31 7,9 ÷ 14,0 3 ÷ 74 Bột 791 132 177,7 2,55 123 31 Cuội 1100 59 140,1 2,61 113 37 Cát kết 990 59 133 2,59 180 52 Cọc Sáu 4,0 ÷ 11,0 8 ÷ 60 Bột 410 25,2 55,9 2,64 96 38 Sét 150 9,5 20,8 2,50 60 10 Hiện tại, số ngày làm việc trong năm của mỏ than Đèo Nai là 355 ngày. Số ca làm việc trong ngày là 3 ca (xúc bốc đất đá) và 2 ca (khai thác than). Số giờ làm việc trong ca là 8 giờ. Mỏ than Cao Sơn Công suất được phép khai thác của mỏ than Cao Sơn là 3,5.

Mỏ Cao Sơn áp dụng chế độ làm việc trong năm là 293 ngày. Số ca làm việc trong ngày: 3 ca (xúc bốc đất đá), 2 ca (khai thác than). Số giờ làm việc trong ca: 8 giờ. Mỏ than Cọc Sáu Trên cơ sở sự phân bổ trữ lượng than còn lại theo tầng, tốc độ xuống sâu tại khu Thắng Lợi theo dự tính là 15 m/năm thì sản lượng của mỏ Cọc Sáu đạt 2,5.

Tuổi thọ của mỏ là 24 năm (từ 2010 đến 2033).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ