Mở đầu - Chƣơng 2: Tổng quan - Chƣơng 3: Cơ sở lý thuyết - Chƣơng 4: Kết quả số - Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục code Matlab HVTH: Lê Bá Cƣờng Trang 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. NGUYỄN HOÀI SƠN Chƣơng 2.1 TỔNG QUAN VỀ VAN ĐIỀU CHỈNH CHẤT LỎNG (TLD) 2.1 GIỚI THIỆU Nhu cầu ngày càng cao của việc xây dựng những tòa nhà cao tầng có những đặc tính giảm chấn tƣơng đối thấp đã thu hút sự quan tâm tìm ra những các hiệu quả và tiết kiệm để giảm rung động của cấu trúc dƣới những tải động (ví dụ nhƣ gió và động đất). Những hệ thống khác nhau đƣợc đề xuất để tăng giảm chấn cấu trúc chống lại tải theo phƣơng ngang. Sau đây là Bảng tóm tắt về những hệ thống bảo vệ chống địa chấn thông thƣờng (Ba loại hệ thống bảo vệ địa chấn đã đƣợc thực hiện, theo Christopoulos và Filiatrault 2006).
Bảng 2-1 Hệ Thống Bảo Vệ Chống Động Đất Hệ thông Hệ giảm chấn phụ Hệ cô lập thƣờng Thụ động Chủ động Hệ dẻo Hệ kim loại Hệ thanh giằng Hệ dẻo Hệ lò xo nhựa Hệ ma sát Hệ trọng lƣợng Hệ lò xo nhựa cƣờng Hệ dẻo Hệ chất lỏng Hệ cắt độ cao Hệ nhớt Hệ biến chất Hệ kim loại Hệ trọng lƣợng Hệ rắn Hệ giằng Hệ nhớt Hệ chất lỏng Hệ điện Hệ con lắc Hệ trọng tâm Hệ lƣu biến 2.1 Hệ thông thƣờng Những hệ thống này dựa trên những khái niệm truyền thống và sử dụng phi đàn hồi ổn định để làm tiêu tán năng lƣợng. Cơ cấu này có thể đạt đƣợc bởi bản lề dẽo (plastic hinging) của những cây cột, dầm và những bức tƣờng, trong suốt ứng xử dọc trục của những phần tử thanh dằn bằng cách tạo ra sức kéo hoặc sự bất ổn định trong việc nén hay thông qua những bản lề cắt của những phần tử thép.2 Hệ cô lập Những hệ cô lập thƣờng đƣợc dùng giữa nền và những phần tử cơ sở của tòa nhà và giữa sàn và trụ cầu. Những hệ thống này đƣợc thiết kế để có khối lƣợng độ cứng ngang tƣơng đối với cấu trúc chính ít hơn để hấp thụ năng lƣợng động đất HVTH: Lê Bá Cƣờng Trang 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. NGUYỄN HOÀI SƠN nhiều hơn.
Một hệ thống giảm chấn phụ có thể đƣợc cài vào hệ cô lập để giảm chuyển vị của cấu trúc cô lập nhƣ là một tổng thể.3 Hệ giảm chấn phụ Hệ giảm chấn phụ có thể đƣợc phân loại thành 3 nhóm là hệ thụ động, hệ chủ động và hệ bán chủ động. Những giảm chấn này đƣợc kích hoạt bởi chuyển động của cấu trúc và giảm chuyển vị của cấu trúc bởi việc làm tiêu tán năng lƣợng thông qua những cơ cấu khác nhau.1 Hệ chủ động Hệ chủ động quan sát ứng xử của cấu trúc, và sau khi xử lý thông tin, trong một khoảng thời gian ngắn, tạo ra một tập các lực để điều chỉnh trạng thái hiện tại của cấu trúc. Nói chung, một hệ điều khiển chủ động đƣợc tạo bởi 3 thành phần: một hệ thống quan sát có thể nhận thấy trạng thái của cấu trúc và ghi dữ liệu sử dụng một hệ thu dữ liệu điện tử; một hệ điều khiển quyết định những lực phản ứng lại để áp đặt lên cấu trúc dự trên dữ liệu đầu ra từ hệ quan sát và; một hệ dẫn động để đặt tải vật lý vào cấu trúc. Để thực hiện tất cả những điều này, một hệ điều khiển chủ động cần nguồn năng lƣợng bên ngoài liên tục.
Việc mất năng lƣợng, có thể làm cho những hệ thống này mất tác dụng.2 Hệ bán chủ động Những hệ bán chủ động cũng tƣơng tự nhƣ hệ chủ động ngoài trừ việc là so với hệ chủ động thì chúng cần năng lƣợng ngoài ít hơn. Thay vì sử dụng những lực phụ cho hệ cấu trúc, hệ bán chủ động điều khiển dao động bằng cách điều chỉnh tính chất của cấu trúc (ví dụ điều chỉnh giảm chấn bằng cách điều khiển dạng hình học của những cửa trong giảm chấn chất lỏng). Yêu cầu cho nguồn năng lƣợng bên ngoài cũng hạn chế việc ứng dụng của hệ bán chủ động.4 Cơ cấu thụ động Hệ thụ động làm tiêu tán một phần năng lƣợng đầu vào do địa chấn lên cấu trúc mà không cần bất kỳ nguồn năng lƣợng bên ngoài nào. Những tính chất của nó là không thay đổi trong suốt quá trình chuyển động địa chấn của cấu trúc và không thể điều chỉnh.
Những thiết bị điều khiển thụ động đƣợc thấy là làm việc một cách HVTH: Lê Bá Cƣờng Trang 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. NGUYỄN HOÀI SƠN hiệu quả; mạnh và tiết kiệm. Do đó, chúng đƣợc sử dụng rộng rãi trong cấu trúc xây dựng. Những loại chính của hệ tiêu tán năng lƣợng thụ động có thể xem ở Bảng 2-2 (Christopoulos và Filiatrault 2006).
Bảng 2-2 Một Số Loại Giảm Chấn Thụ Động Chuyển vi cƣỡng bức thụ Vật tốc kích hoạt Truyền động động Giảm chấn bằng kim loại Giảm chất bằng trọng khối Giảm chấn bằng nhớt Ma sát giảm chấn lƣợng Giảm chấn trọng tâm Giảm chấn bằng nhớt Giảm chấn bằng nhớt Giảm chất bằng chất lỏng Những thiết bị chuyển vị cƣỡng bức thụ động hấp thụ năng lƣợng thông qua chuyển vị tƣơng đối giữa những điểm mà chúng kết nối với cấu trúc, ứng xử của chúng thƣờng độc lập với tần số chuyển động và nằm trong pha với những nội lực lớn nhất đƣợc tạo ra ở cuối mỗi chu kỳ dao động tƣơng ứng với biến dạng lớn nhất của cấu trúc. Giảm chấn kim loại, giảm chấn ma sát, giảm chất tự định tâm, và giảm chất nhớt là những thiết bị chính trong nhóm này. Những thiết bị Vận tốc kích hoạt (Velocity-activated devices) hấp thụ năng lƣợng thông qua vận tốc tƣơng đối giữa những điểm kết nối của chúng, ứng xử của những giảm chấn này thƣờng phụ thuộc vào tần số chuyển động và ngoài pha với những nội lực lớn nhất đƣợc tạo ra ở cuối mỗi chu kỳ dao động tƣơng ứng với biến dạng lớn nhất của cấu trúc. Điều này gây ra một mức độ lực thiết kế thấp hơn cho những phần tử cấu trúc và nền móng, giảm chấn nhớt và giảm chấn đàn nhớt là những ví dụ điển hình trong nhóm này.2 VAN ĐIỀU CHỈNH CHẤT LỎNG TLD 2.1 Lịch Sử Phát Triển Kể tử những năm 1950 giảm chấn chất lỏng đã đƣợc sử dụng để ổn định tàu biển hay để điều khiển chuyển động lắc của vệ tinh.
Những năm cuối 1970 TLD bắt đầu đƣợc sử dụng trong xây dựng đẻ giảm chuyển động của cấu trúc; Vandiver và Mitome (1979) đã sử dụng TLD để giảm dao động do gió của một sân ga. Thêm HVTH: Lê Bá Cƣờng Trang 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. NGUYỄN HOÀI SƠN nữa, Mei (1978) và Yamamoto cùng đồng nghiệp quan sát những tƣơng tác của sóng cấu trúc sử dụng những phƣơng pháp số. Những năm đầu 1980, những tham số quan trọng nhƣ chiều cao chất lỏng, khối lƣợng, tần số và giảm chấn cho một TLD đƣợc gắn vào hệ thống ngoài biển đã đƣợc nghiên cứu bởi Lee và Reddy (1982).
Bauer (1984) đã giới thiệu một bể chứa hình chữ nhật chứa đầy 2 chất lỏng không trộn lẫn cho một cấu trúc tòa nhà. Kareeem và Sun, Sato, Toshiya và Tanaka, Modi và Welt là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đề nghị sử dụng TLD trong cấu trúc xây dựng. Những TLD có thể đƣợc sử dụng nhƣ một thiết bị chủ động hoặc thụ động và đƣợc chia làm 2 nhóm chính: Tuned Sloshing Dampers (TSD) và Tuned Liquid Dampers (TLCDs).2 Tuned Liquid Column Dampers TLCD kết hợp ảnh hƣởng của chuyển động chất lỏng trong ống, điều này tạo ra một lực phục hồi sử dụng ảnh hƣởng trọng lực của chất lỏng và ảnh hƣởng giảm chấn đƣợc tạo ra bởi sự mất áp suất thủy động (Sakai và đồng nghiệp) Ƣu điểm của TLCD: - Nó có thể có một vài hình dạng tùy ý giúp cho nó dễ dàng phù hợp với một cấu trúc đang tồn tại. - Ứng xử của nó hoàn toàn dễ hiểu.
- Giảm chấn TLCD có thể đƣợc điêu khiển bởi việc hiệu chỉnh mở cửa. - Tần số TLCD có thể đƣợc hiệu chỉnh bởi việc điều chỉnh cột chất lỏng trong ống. - Một Double Tuned Liquid Column Damper (DTLCD) đƣợc tạo thành từ 2 TLCD theo 2 hƣớng chuyển động (Kim và đồng nghiệp). Vì vậy DTLCD hoạt động trong nhiều hơn một hƣớng giúp loại bỏ giới hạn của TLDC một hƣớng thông thƣờng.
HVTH: Lê Bá Cƣờng Trang 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.3 Tuned Sloshing Damper Một TSD làm tiêu tán năng lƣợng thông qua ma sát lớp biên chất lỏng, việc nhiểm bẩn bề mặt tự do và bẽ gãy sóng (do thành phần phƣơng ngang của vận tốc chất lỏng liên quan tới chuyển động sóng, đỉnh sóng giảm khi biên độ tăng, ở điểm này những mô hình tuyến tính đơn giản không thể diễn tả ứng xử chất lỏng). Một TSD có thể hoạt động ở chỗ nông hoặc giảm chấn nƣớc sâu. Ngƣời ta cho là sóng trong khoảng ½ >h/L> 1/20 tới 1/25 là sóng nƣớc nông, trong đó h là độ sâu nƣớc và L là chiều dài sóng (Sun và đồng nghiêp ). Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng một tỷ lệ bằng hoặc thấp hơn 0.5 cho ra một lƣợng giảm chấn nhiều hơn tƣơng ứng với tiêu tán năng lƣợng nhiều hơn.
Dƣới những kích thích biên độ cao, TSD nƣớc nông tiêu tán một lƣợng lớn năng lƣợng nhờ vào ứng xử phi tuyến của nó tƣơng ứng với việc bẽ gãy sóng. Mặt khác một ứng xử phi tuyến có thể đƣợc nhìn thấy trong trƣờng hợp nƣớc sâu thậm chí dƣới kích thích cao. Tần số chất lỏng đóng vai trò quan trọng ứng xử TLD, những nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây cho thấy rằng giá trị tối ƣu của tần số chất lỏng là một giá trị gần với tần số kích thích, ở đó chất lỏng cộng hƣởng với chuyển động của bễ chứa. Vì vậy, việc hòa hợp tần số TLD với tần số tự nhiên của cấu trúc sẽ giúp tiêu tán một lƣợng năng lƣợng đáng kể.
Tỷ số khối lƣợng (tỷ số của khối lƣợng nƣớc với khối lƣợng của toàn thể cấu trúc) là một thông số quan trọng khác ảnh hƣởng đến ứng xử của hệ cấu trúc TLD. Nó cho thấy rằng với một tỷ số khối lƣợng tƣơng đối nhỏ (vd 4%), không có đóng góp quan trọng cho gia tốc toàn thể của hệ thống, việc giảm đáp ứng cấu trúc hiệu quả có thể đạt đƣợc. So với những giảm chấn thụ động khác TSD có một vài ƣu điểm: - Dễ dàng thiết đặt với chi phí thấp. - Dễ hòa hợp bằng cách thay đổi mực chất lỏng hoặc kích thƣớc của bễ chứa.
- Khả năng hoạt động nhƣ là một giảm chấn 2 chiều.