Chương 1. Một số vấn đề lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra Chương 2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra ở Việt Nam Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra ở Việt Nam 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA 1.
Khái quát về công nghệ thông tin 1. Khái niệm Công nghệ thông tin: Tại Việt Nam, định nghĩa CNTT lần đầu tiên xuất hiện tại Nghị quyết 49/NQ-CP của Chính phủ năm 1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương thức khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. [6] Theo Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị: “Công nghệ thông tin (CNTT) là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… của con người”. [4] Gần đây nhất, để áp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý trong hoạt động ứng dụng CNTT.
Ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Công nghệ thông tin, khái niệm CNTT được định nghĩa tại cụ thể trong luật: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. [19] Ứng dụng công nghệ thông tin: Theo Từ điển tiếng Việt: “Ứng dụng là đưa lý thuyết áp dụng vào thực tiễn: ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất”. Theo đó, ứng dụng CNTT có thể hiểu một cách đơn giản là đưa CNTT (phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại) vào thực tiễn để sản xuất. [18] Luật Công nghệ thông tin 2006, cũng đưa ra định nghĩa: “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
[19] 9 Nói cụ thể hơn, khái niệm ứng dụng CNTT được sử dụng trong đề tài này được hiểu như sau: Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. Đặc điểm Có thể nhận thấy ứng dụng công nghệ thông tin có 3 đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, mang tính chuyên môn - kỹ thuật: đặc điểm này bộc lộ thông qua việc CNTT là sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại, cho nên để làm việc trong môi trường công nghệ thông tin thì phải trải qua quá trình đào tạo chuyên sâu, bài bản về nó. Điều này thể hiện thông qua việc, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam đều đào tạo các chuyên ngành về công nghệ thông tin, thể hiện nhu cầu của xã hội hiện nay đã cần những kỹ sư, cử nhân có chuyên môn - kỹ thuật về CNTT, đây cũng là một biểu hiện của tính thiết yếu của CNTT. Thứ hai, mang tính phong phú, đa dạng: đặc điểm này xuất phát từ đối tượng áp dụng của công nghệ thông tin.
Trên thực tế hiện nay, công nghệ thông tin đã hoạt động trên tất cả các lĩnh vực trong xã hội. Trong đó, có những lĩnh vực trọng điểm của một quốc gia như giáo dục, y tế, thủ tục hành chính, quốc phòng - an ninh, thanh tra, nội vụ, tài chính,… đều có kế hoạch để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Thứ ba, mang tính thiết yếu: đặc điểm này xuất phát từ mục đích của ứng dụng CNTT. Công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại là yếu tố tiên quyết đối với năng suất lao động.
Sự phát triển của công công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Quốc gia nào ứng dụng CNTT vào hoạt động sản xuất, chắc chắn là có năng suất lao động cao. Ngược lại, các quốc gia sử dụng không ứng dụng công nghệ thông tin hoặc là không chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất, năng suất lao động không thể cao. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT là yếu tố quan trọng để tạo nên sự phát triển toàn diện, mang tính thiết yếu của xã hội.
Khái quát về hoạt động thanh tra 1. Khái niệm 10 Theo Từ điển Tiếng Việt “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. [40] Theo Từ điển Luật học “Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. [24] Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt “Thanh tra là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.
[14] Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa “Thanh tra là hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của cơ quan, tổ chức, cá nhân và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền”. [37] Giáo trình Luật Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Trường Đại học Luật Hà Nội dành một chương riêng giới thiệu về, trong đó định nghĩa HĐTT là “Thanh tra là một hoạt động chuyên trách do bộ máy thanh tra đảm nhiệm có nội dung là việc xem xét, đánh giá, kết luận chính thức về việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước nhằm phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý hành chính nhà nước”. [38] Về mặt pháp luật, Luật Thanh tra 2022 định nghĩa “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. [20] Như vậy, hoạt động thanh tra là hoạt động mang tính chuyên trách với nội dung là xem xét, đánh giá, xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn, do cơ quan thực hiện chức năng thanh tra thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Đặc điểm Qua khái niệm về hoạt động thanh tra, phản ánh được những đặc điểm cốt lõi hoạt động thanh tra như sau: Thứ nhất, gắn liền với quản lý nhà nước: 11 Một, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động thanh tra: với tư cách là một giai đoạn (bộ phận) trong quá trình quản lý nhà nước, bởi thế quản lý nhà nước và thanh tra đều sử dụng quyền lực nhà nước để tác động lên đối tượng quản lý, thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước. Cho nên, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động thanh tra. Hai, hoạt động thanh tra tác động ngược trở lại quản lý nhà nước: là cách thức để quản lý nhà nước nhưng hoạt động thanh tra tác động ngược trở lại quản lý nhà nước, góp phần hoàn chỉnh phương pháp quản lý. Nếu trong bộ máy nhà nước nếu thiếu đi thanh tra thì bộ máy đó sẽ không đầy đủ và hoạt động kém hiệu quả, thậm chí dẫn đến sụp đổ.
Ngược lại nếu có thanh tra và nó hoạt động hiệu quả sẽ ngăn chặn được tình trạng tham nhũng, biến chất trong đội ngũ cán bộ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong bộ máy nhà nước. Thứ hai, quyền lực nhà nước: xuất phát từ địa vị pháp lý của nó trong quản lý nhà nước, thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước. Cho nên hoạt động thanh tra mang tính quyền lực - phục tùng hay nói cách khác là mang tính quyền lực. Mặt khác, địa vị pháp lý của nó cũng được sinh ra từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Quốc hội ban hành Luật Thanh tra 2022 được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2022 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2023, đã khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về hoạt động thanh ra, kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định phù hợp với thực tiễn, đồng thời cũng khẳng định địa vị pháp lý vững chắc của ngành thanh tra, từ đó tạo cơ hội cho hoạt động thanh tra trở nên hiệu lực, hiệu quả hơn trước. Ngoài ra, không thể cho rằng hoạt động thanh tra đồng nhất với hoạt động cưỡng chế. Cưỡng chế là một yếu tố đặc biệt và trong trường hợp đặc biệt mới sử dụng đến nó. Thanh tra là hoạt động thường xuyên, sáng tạo, ngày càng mở rộng và mang tính dân chủ.
Vì vậy, khi nói đến hoạt động thanh tra không thể nói nó chỉ là hoạt động sử dụng biện pháp cưỡng chế. Thứ ba, khách quan và độc lập tương đối: cả hai tính chất này đều xuất phát từ bản chất của thanh tra: Tính khách quan được biểu hiện như sau: Một, hoạt động thanh tra phải đánh sự việc, hiện tượng đúng sự thật để đưa ra kết luận một cách chính xác. 12 Hai, hoạt động thanh tra phải luôn tuân thủ pháp luật. Pháp luật sinh ra để giúp nhà nước quản lý xã hội, mà nhà nước của giai cấp cầm quyền, cho nên pháp luật xét cho cùng là để phục vụ giai cấp cầm quyền để quản lý xã hội.