Khóa luận: Ứng dụng CNTT, toàn đạc điện tử lập BĐĐC Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội

Nghiên cứu khóa luận chi tiết về lập bản đồ địa chính xã Cẩm Lĩnh ứng dụng công nghệ IT và thiết bị toàn đạc điện tử. Đảm bảo độ chính xác và hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khóa luận lập bản đồ địa chính Cẩm Lĩnh

Khóa luận ứng dụng công nghệ thông tin và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính tờ số 12 tỷ lệ 1:1000 xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đây là đề tài thuộc chuyên ngành Quản lý đất đai, được thực hiện tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên năm 2019. Bản đồ địa chính là tài liệu pháp lý quan trọng, thể hiện ranh giới thửa đất, diện tích và hiện trạng sử dụng đất. Xã Cẩm Lĩnh thuộc huyện Ba Vì, có địa hình phức tạp gồm cả vùng đồng bằng và đồi núi. Việc áp dụng công nghệ toàn đạc điện tử kết hợp phần mềm tin học giúp tăng độ chính xác và hiệu quả trong đo đạc, xử lý số liệu. Tỷ lệ 1:1000 đảm bảo chi tiết đầy đủ cho công tác quản lý đất đai cấp xã. Quá trình thực hiện bao gồm xây dựng lưới khống chế, đo chi tiết, xử lý số liệu và vẽ bản đồ hoàn chỉnh.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm xã Cẩm Lĩnh

Xã Cẩm Lĩnh nằm ở huyện Ba Vì, phía tây thành phố Hà Nội. Địa hình xã có sự phân hóa rõ rệt giữa vùng đồng bằng ven sông và vùng đồi núi Ba Vì. Xã có tổng cộng hơn 12 loại đất khác nhau, bao gồm đất chuyên lúa, đất cây lâu năm, đất ở nông thôn, đất giao thông và nhiều loại đất khác. Tổng diện tích đất cây lâu năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 93.000 m². Điều kiện địa hình phức tạp đòi hỏi phương pháp đo đạc hiện đại để đảm bảo độ chính xác cao trong lập bản đồ địa chính.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài là thành lập bản đồ địa chính tờ số 12 tỷ lệ 1:1000 xã Cẩm Lĩnh bằng máy toàn đạc điện tử và công nghệ thông tin. Đề tài nhằm hệ thống kiến thức lý thuyết đã học, vận dụng vào thực tiễn đo đạc và quản lý đất đai. Ý nghĩa của đề tài thể hiện ở việc cung cấp tài liệu địa chính chính xác phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là cơ sở để địa phương quản lý tài nguyên đất hiệu quả, kiểm tra rà soát quy hoạch sử dụng đất.

II. Phân tích phương pháp và kỹ thuật lập bản đồ địa chính

Phương pháp thành lập bản đồ địa chính hiện nay sử dụng hai kỹ thuật chính: phương pháp trắc địa truyền thống và phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin. Máy toàn đạc điện tử là thiết bị đo góc và đo cạnh chính xác cao, tích hợp khả năng lưu trữ dữ liệu số. Thiết bị đo có độ chính xác góc từ 3 đến 5 giây, cho phép đo khoảng cách với sai số nhỏ. Kết hợp phần mềm xử lý số liệu như CASS, Surfer hoặc AutoCAD giúp tự động hóa quá trình tính toán tọa độ và vẽ bản đồ. Quy trình đo đạc tuân thủ theo Quy phạm kỹ thuật 08/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các chỉ tiêu kỹ thuật về sai số được quy định rõ ràng: sai số trung phương cạnh đường chuyền sau bình sai không lớn hơn 0,05m. Chiều dài cạnh đường chuyền tối đa 400m và tối thiểu 20m. Số cạnh trong đường chuyền không quá 15 cạnh đối với tỷ lệ từ 1/500 đến 1/5000.

2.1. Xây dựng lưới khống chế đo vẽ

Lưới khống chế đo vẽ được xây dựng dựa trên các điểm lưới địa chính cấp cao hơn hoặc điểm vùng phụ cận. Thiết kế lưới tuân thủ dự án chi tiết đã được duyệt, bao gồm công tác chọn điểm, chôn mốc và đặt tên. Lưới kinh vĩ được thiết kế với các đường chuyền có chiều dài tối đa từ điểm gốc đến điểm nút nhỏ hơn 2/3 chiều dài quy định. Các điểm lưới đều được đo và tính toán bình sai để đảm bảo độ chính xác tọa độ. Phương vị và độ cao của các điểm được xác định qua đo góc và đo cạnh bằng máy toàn đạc điện tử.

2.2. Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng

Tiêu chuẩn chất lượng đo đạc được quy định theo Thông tư 25/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Sai số trung phương góc đường chuyền không quá 5 giây. Sai số trung phương độ cao sau bình sai: vùng đồng bằng ≤ 10cm, vùng núi ≤ 12cm. Chênh lệch giữa hai nửa lần đo góc và chênh lệch hướng quy không nhỏ hơn hoặc bằng 20 giây. Cạnh đường chuyền kinh vĩ đo hai lần riêng biệt, chênh lệch giữa các lần đo ≤ 2a. Chênh cao đo hai lần, chênh lệch giữa đo đi và đo về phải nhỏ hơn ±100√L mm.

III. Quy trình ứng dụng công nghệ thông tin và toàn đạc điện tử

Quy trình lập bản đồ địa chính bằng công nghệ thông tin và máy toàn đạc điện tử gồm nhiều bước tuần tự. Bước đầu tiên là chuẩn bị: nghiên cứu tài liệu, kiểm tra thiết bị và lập kế hoạch đo đạc. Tiếp theo là giai đoạn đo thực địa, bao gồm đo lưới khống chế và đo chi tiết ranh giới thửa đất. Máy toàn đạc điện tử được đặt tại các trạm đo, sử dụng gương lăng trụ để đo phản xạ. Dữ liệu đo được lưu trữ trực tiếp trong bộ nhớ máy dưới dạng tọa độ XYZ. Sau đo thực địa, số liệu được truyền về máy tính để xử lý bằng phần mềm chuyên dụng. Công đoạn bình sai lưới khống chế sử dụng phương pháp bình sai tối thiểu. Số liệu chi tiết được hiệu chỉnh và biên tập trước khi vẽ bản đồ. Bản đồ địa chính hoàn chỉnh thể hiện đầy đủ ranh giới thửa đất, tên chủ sử dụng, diện tích và loại đất.

3.1. Đo đạc thực địa bằng máy toàn đạc điện tử

Máy toàn đạc điện tử thực hiện đồng thời đo góc phương vị, góc đứng và khoảng cách nghiêng. Thiết bị có khả năng đo khoảng cách với độ chính xác cao, thường từ 2-5mm cộng sai số tỷ lệ. Tại mỗi trạm đo, kỹ thuật viên thiết lập máy, căn chỉnh và đo các điểm chi tiết xung quanh. Dữ liệu được ghi nhận tự động, giảm thiểu sai sót do ghi chép thủ công. Máy toàn đạc điện tử còn tích hợp tính năng đo cao bằng phương pháp tam giác cao trình, cho phép xác định độ cao của các điểm đo cùng lúc với đo tọa độ mặt bằng.

3.2. Xử lý số liệu và vẽ bản đồ bằng phần mềm

Số liệu đo từ máy toàn đạc điện tử được truyền về máy tính qua cáp kết nối hoặc Bluetooth. Phần mềm xử lý số liệu thực hiện các công việc: nhập liệu, kiểm tra sai sót, hiệu chỉnh và tính toán tọa độ. Công đoạn bình sai lưới khống chế sử dụng phương pháp bình sai tối thiểu dựa trên điều kiện khép. Phần mềm AutoCAD hoặc MicroStation được dùng để vẽ bản đồ địa chính từ dữ liệu tọa độ đã xử lý. Các thuộc tính như tên thửa, diện tích, loại đất được gán vào bản đồ theo quy định quy phạm.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn của bản đồ địa chính

Kết quả của khóa luận là bản đồ địa chính tờ số 12 tỷ lệ 1:1000 xã Cẩm Lĩnh hoàn chỉnh và chính xác. Bản đồ thể hiện tổng cộng 290 thửa đất thuộc 12 loại đất khác nhau. Đất cây lâu năm chiếm diện tích lớn nhất với 93.122,7 m² gồm 103 thửa. Đất ở nông thôn có 71 thửa với tổng diện tích 18.618,8 m². Đất chuyên lúa có 59 thửa, diện tích 22.831,1 m². Các loại đất khác như đất giao thông, đất giáo dục, đất công trình sự nghiệp cũng được thể hiện đầy đủ. Bản đồ địa chính phục vụ nhiều mục đích quản lý quan trọng. Cơ quan nhà nước sử dụng bản đồ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kiểm tra ranh giới và giải quyết tranh chấp. Kết quả đo đạc còn là cơ sở để quy hoạch sử dụng đất, tính thuế và thực hiện các chính sách đất đai. Công tác quản lý đất đai tại Cẩm Lĩnh đã đi vào nề nếp nhờ có tài liệu địa chính chính xác.

4.1. Kết quả đo đạc và thống kê đất đai

Kết quả đo đạc cho thấy sự phân loại đất đai đa dạng tại xã Cẩm Lĩnh. Đất bằng trồng cây hàng năm khác có 28 thửa với 8.054,9 m². Đất nuôi trồng thủy sản có 9 thửa, diện tích 3.563 m². Đất công trình năng lượng có 10 thửa với 398 m². Đất giáo dục chỉ có 1 thửa với 7.941,4 m². Đất sông ngòi, kênh rạch có 3 thửa với 5.608,2 m². Các chỉ tiêu kỹ thuật đều đạt quy chuẩn, đảm bảo bản đồ đủ điều kiện pháp lý.

4.2. Ứng dụng trong quản lý đất đai và phát triển địa phương

Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 là công cụ thiết yếu cho quản lý đất đai cấp xã. Địa phương sử dụng bản đồ để rà soát, hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc kiểm tra giám sát thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được thực hiện chính xác hơn. Bản đồ còn phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Bộ phận chuyên môn tiếp tục kiểm tra, hướng dẫn nhân dân hoàn chỉnh hồ sơ đất đai theo quy định pháp luật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Khóa luận ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính tờ số 12 tỷ lệ 1 1000 xã cẩm lĩnh huyện ba vì thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai – nguồn gốc của mọi hoạt động sống của con người. Trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đất đai luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng; đất đai là đầu vào của nhiều nghành kinh tế khác nhau, là nguồn tư liệu sản xuất của nghành nông nghiệp. Không những thế, đất đai còn là không gian sống của con người.

Song sự phân bố đất đai lại rất khác nhau dẫn đến nảy sinh các mối quan hệ về đất đai cũng rất phức tạp. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao quản lý đất đai một cách có hiệu quả để góp phần giải quyết tốt các quan hệ đất đai, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước. Hiện nay dưới sự tác động của khoa học công nghệ tin học, ngành đo đạc bản đồ đã có những sự chuyển biến phát triển vượt bậc. Đó là sự ra đời của nhiều phương pháp thành lập bản đồ khác nhau: Thành lập bản đồ từ ảnh, bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp, phương pháp biên tập và cho ra sản phẩm dưới các dạng khác nhau.

Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm khác nhau có những mặt mạnh, mặt yếu, tuy nhiên phương pháp đo vẽ trực tiếp là phương pháp có thể đáp ứng tốt nhất về yêu cầu thành lập bản đồ địa chính được áp dụng cho mọi tỷ lệ, nó phù hợp với những khu đất đô thị, khu đất có giá trị kinh tế cao, diện tích đo vẽ nhỏ hẹp, ẩn khuất không thể dùng phương pháp khác không đạt hiệu quả kinh tế và yêu cầu về bản đồ. Công tác đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội là một phần của dự án nêu trên. Để bảo vệ quỹ đất đai của địa phương cũng như để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý đất đai thì bản đồ địa chính là một trong những tài liệu hết sức cần thiết, vì nó là nguồn tài liệu cơ sở cung cấp thông tin cho người quản 2 lý, sử dụng đất, đồng thời là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính mang tính pháp lý cao. Xuất phát từ những nội dung trên, được sự đồng ý của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội, Công ty cổ phần phát triển Sông Đà đã tổ chức khảo sát, thu thập tài liệu lập Thiết kế kỹ thuật - Dự toán: Đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đã tiến hành xây dựng hệ thống bản đồ địa chính cho các địa xã, phường trên địa bàn tỉnh trong đó có xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

Với tính cấp thiết của việc phải xây dựng hệ thống bản đồ địa chính cho toàn khu vực xã Cẩm Lĩnh, với sự phân công, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên,và với sự hướng dẫn trực tiếp và nhiệt tình của thầy giáo ThS. Đỗ Sơn Tùng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính tờ số 12 tỷ lệ 1:1000 xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử vào thành lập lưới khống chế đo vẽ, đo vẽ chi tiết và biên tập một tờ bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 tại xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. - Xác định được thuận lợi, khó khăn và giải pháp khắc phục trong quá trình thành lập bản đồ địa chính.

Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học. + Thực tập tốt nghiệp là cơ hội tốt để hệ thống và củng cố lại kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và áp dụng vào thực tiễn công việc cho sinh 3 viên trong thực tiễn. + Qua nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng máy toàn đạc điện tử trong công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được nhanh hơn đầy đủ hơn và chính xác hơn. + Phục vụ tốt cho việc đo vẽ chi tiết thành lập bản đồ địa chính theo công nghệ số, hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính theo quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.

4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Khái niệm bản đồ địa chính Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận (Luật đất đai 2013, theo mục 4 điều 3) [6]. Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, vì vậy bản đồ địa chính thể hiện tính chất chung của bản đồ là tính địa lý: xác định vị trí địa vật, địa hình khu vực; tính kinh tế: ở vị trí và mục đích sử dụng của thửa đất.

Đặc biệt, bản đồ địa chính còn mang tính pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa, từng chủ sử dụng đất. Tính pháp lý của bản đồ địa chính còn được thể hiện trong hồ sơ địa chính. Công tác địa chính bao gồm cả 3 mặt: tự nhiên, kinh tế, pháp lý. Ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu thiếu một trong ba yếu tố thì chưa đủ điều kiện để gọi là “Địa chính” [5].

Tính chất, vai trò của BĐĐC Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý cao phục vụ chặt chẽ quản lý đất đai đến từng thửa đất, là cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. - Bản đồ địa chính được thành lập nhằm mục đích sau: + Làm cơ sở để giao đất, thực hiện đăng ký đất, thu hồi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. + Xác nhận hiện trạng về địa giới các cấp hành chính xã, huyện, tỉnh. + Xác nhận hiện trạng, thể hiện và chỉnh lý biến động của từng loại đất trong phạm vi xã.

5 + Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm dân cư, đường giao thông, cấp thoát nước. + Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và tranh chấp đất đai. + Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai. + Làm cơ sở để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai các cấp.

Các loại bản đồ địa chính - Ngày nay Bản đồ địa chính được lưu ở hai dạng là bản đồ giấy và bản đồ số địa chính Bản đồ giấy địa chính là bản đồ truyền thống, các thông tin rõ ràng, trực quan, dễ sử dụng nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú được thể hiện trên giấy. Bản đồ địa chính có 2 loại: + Bản đồ địa chính gốc: Là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện chọn và không chọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập trong khu vực, trong phạm vi một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương, được một cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận. Bản đồ địa chính gốc là bản đồ được đo vẽ thể hiện hiện trạng sử dụng đất, là tài liệu cơ sở cho biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ sung thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị cấp xã [5]. + Bản trích đo địa chính: Là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc trọn một số thửa đất liền kề nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã trường hợp thửa đất có liên quan đến hai hay nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đường địa giới hành chính xã để xác định diện tích thửa đất trên từng xã, được cơ quan thực hiện, ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.

6 Bản đồ số địa chính lưu ở dạng file. Được lưu trong máy tính hoặc USB. Các yếu tố cơ bản và Nội dung bản đồ địa chính 2. Các yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính Một số yếu tố cơ bản và các yếu tố phụ khác có liên quan của bản đồ địa chính mà chúng ta cần phải phân biệt và hiểu rõ bản chất.

Yếu tố điểm: Điểm chỉ một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng mốc. Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các điểm đặc trưng của địa vật, chúng ta cần chú ý quản lý dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và toạ độ của chúng [5]. Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng hay những đường cong. Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai điểm đầu và cuối.

Đối với đường gấp khúc và Các đường cong cần quản lý toạ độ các điểm đặc trưng của nó và đưa về dạng hình học cơ bản để có thể quản lý các yếu tố đặc trưng [5]. Thửa đất: Là một mảnh đất tồn tại ở thực địa được giới hạn bởi một đường bao khép kín, có diện tích xác định, thuộc một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định. Trong mỗi thửa đất có thể có một hoặc một số loại đất [5]. Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có đường ranh giới phân chia không ổn định, có các khu được sử dụng vào các mục đích khác nhau, mức tính thuế khác nhau.

Loại thửa này gọi là thửa đất phụ hay đơn vị tính thuế [5]. Lô đất: Là vùng đất gồm một hoặc nhiều loại đất. Thông thường lô đất được giới hạn bởi các con đường kênh mương, sông ngòi. Đất đai được chia lô theo điều kiện tương đồng nhất định như có cùng độ cao, độ dốc, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ