CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý thực hiện. Đối với một doanh nghiệp, thành công chính là sự tương thích giữa mục tiêu và kết quả hành động. Kết quả của các hành động ở hiện tại với mục đích là để đạt được các mục tiêu mong muốn ở tương lai. Quản lý thực hiện chính là tạo ra sự tương thích này.
Cụ thể, đó chính là quá trình định hướng hành động sao cho kết quả mà nó tạo ra phải phù hợp với mục tiêu. Điều này chỉ có thể thực hiện dựa trên sự đo lường và quản lý thông tin của kết quả được tạo ra. Như vậy, có thể nói, quản lý thực hiện chính là đo lường kết quả hành động và hướng hành động (duy trì hay điều chỉnh) theo mục tiêu đã định sẵn trên cơ sở đánh giá kết quả của hành động. Quản lý thực hiện phải khởi đầu bằng mục tiêu.
Mục tiêu chính là kết quả mà doanh nghiệp hướng đến để đạt cho bằng được, đồng thời chính là tiêu chuẩn để lập kế hoạch thực hiện, đánh giá, và khen thưởng. Nếu không có mục tiêu, thời gian và nguồn lực sẽ bị lãng phí. Về khía cạnh quản lý, thiết lập mục tiêu là một chức năng thiết yếu của quản lý. Trách nhiệm của người quản lý là phải thiết lập mục tiêu cho doanh nghiệp.
Theo thừa nhận của nhiều chuyên gia, công tác thiết lập mục tiêu sẽ thành công khi và chỉ khi mục tiêu phải đạt các chuẩn sau: - Dễ nhận biết. - Có thể đo lường và xác định thời gian hoàn thành. - Phù hợp với chiến lược của doanh nghiệp. - Có tính khả thi nhưng đầy thử thách.
- Sự tưởng thưởng xứng đáng. Sau đây, chúng ta xem xét tiếp các bộ phận cấu thành của quản lý thực hiện, 1.1 Đo lường thực hiện. Mô hình: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Trong một chu trình quản lý, đo lường có thể được thực hiện ở các giai đoạn như: đầu vào, đầu ra hoặc kết quả. Mô hình tiêu biểu có thể xem xét chính là mô hình đầu vào – đầu ra.
Mục tiêu chiến lược Chu trình chính sách Mục tiêu vận hành Đầu Hoạt Đầu Kết quả Kết quả vào động ra trung gian cuối cùng Hình 1.1: Mô hình đầu vào - đầu ra Nguồn: Public Management and Governance – Tony Bovaird and Elke Loffler Mô hình này cung cấp một cách có hệ thống về quy trình vận hành của một doanh nghiệp. Nó được khởi đầu từ mục tiêu chiến lược. Những mục tiêu chung này thường được tuyên bố trong “tầm nhìn” hay tài liệu về chiến lược của đơn vị. Sau đó, các mục tiêu chung này sẽ được chi tiết hóa thành các mục tiêu vận hành của đơn vị.
Sau khi có mục tiêu cụ thể, đơn vị sẽ sử dụng đầu vào (con người, cơ sở hạ tầng, tài chính, tài sản) để thực thi hành động tạo đầu ra. Khi đó doanh nghiệp sẽ vận hành một cách tốt nhất để đảm bảo số lượng đầu vào hợp lý và chất lượng của đầu ra; đồng thời đo lường kết quả của đầu ra, đảm bảo phù hợp với mục tiêu vận hành hay không? Từ đó, doanh nghiệp sẽ có sự điều chỉnh trong các hành động sắp tới của mình sao cho có thể dễ dàng đạt được mục tiêu. Mô hình này được vận hành lập đi lặp lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Chỉ tiêu đo lường thực hiện: Các doanh nghiệp đo lường thực hiện dựa trên các chỉ tiêu xuất phát từ mô hình đầu vào - đầu ra.
Các chỉ tiêu đó có thể tập trung vào khía cạnh lợi ích hoặc kinh tế. Cụ thể là: - Chỉ tiêu kinh tế: Chi phí trên đơn vị đầu vào. - Chỉ tiêu về năng suất : Số lượng đầu ra trên đơn vị đầu vào. - Chỉ tiêu hiệu quả: Chi phí trên đơn vị đầu ra.
- Chỉ tiêu hiệu lực: Kết quả trên đơn vị đầu ra, chi phí trên mỗi kết quả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Quản lý thông tin thực hiện. Quản lý thông tin thực hiện chính là việc hướng hành động theo mục tiêu đã định trên cơ sở đo lường và đánh giá kết quả của hành động đó. Thông tin thực hiện có thể xuất hiện ở tất cả các khâu của mô hình: đầu vào, hành động, đầu ra, kết quả… Nhưng nhìn tổng thể, đo lường và đánh giá thông tin thực hiện thường được sử dụng trong chu trình chính sách và thực thi trách nhiệm.
Chu trình chính sách gồm 4 bước: chuẩn bị, quyết định, thực thi và đánh giá. Thông tin thực hiện có thể xuất hiện trong tất cả các bước của chu trình.2 Một số mô hình quản lý hiện nay.1 Mô hình quản lý 3D (Three Dimensions – 3D). Mô hình quản lý 3D được xây dựng bởi giáo sư Kopelman (trường quản trị NewYork). Theo ông, sự thành công của doanh nghiệp dựa trên 3 yếu tố cơ bản: 1- Sự thỏa mãn của khách hàng – khi mua sản phẩm, hay dịch vụ của doanh nghiệp khách hàng tin rằng họ nhận được giá trị tốt.
2- Hiệu quả trong việc sử dụng vốn và các nguồn lực khác của doanh nghiệp. 3- Sự thỏa mãn của người lao động – tiền lương và các khoản phụ cấp, nhu cầu phát triển nghề nghiệp và nhu cầu cá nhân có thỏa mãn không.2 : Mối quan hệ giữa 3 yếu tố của mô hình 3D.com – Theo Saga.vn Mô hình này được xây dựng dựa trên cơ sở một công trình nghiên cứu các mô hình doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và chính phủ. Kopelman chọn đối tượng khảo sát là người lao động vì theo ông trong nền kinh tế dịch vụ, đặc biệt đối với nền thương mại điện tử thì người lao động trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trên cả đội ngũ quản lý, khách hàng và cổ đông của doanh nghiệp vì những lý do sau đây: - Người lao động là nguồn thông tin tốt nhất về thực tiễn kinh doanh của công ty. - Thỏa mãn nhu cầu của người lao động là bước khởi đầu trong việc thu được sự thỏa mãn của khách hàng theo nguyên lý.
- Nếu công ty muốn nâng cao tính hiệu quả trong kinh doanh để làm vui lòng khách hàng thì người lao động phải được vui trước. Nếu không, chính mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ “khai thác” sức lao động của người lao động và khiến họ có thể sẽ bỏ doanh nghiệp đi nơi khác. Ưu điểm: Mô hình này giúp các nhà quản lý hiểu công việc của họ được tốt hơn, giúp thực hành công việc của họ “trọn gói mà đơn giản”. Mô hình tập trung vào yếu tố chính đó là người lao động.
Mô hình đặt ra các công việc cho doanh nghiệp phải chú ý đến sự thỏa mãn của người lao động nhằm đạt được mục đích là giữ chân họ ở lại với doanh nghiệp. Khuyết điểm: Để làm cho khách hàng được thỏa mãn khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của công ty thì phải làm cho người lao động được thỏa mãn trước. Như vậy là không chú ý đến nhu cầu, và sự thỏa mãn của khách hàng. Quá đề cao người lao động trong doanh nghiệp.
Chưa thấy được những yếu tố khác tác động đến hoạt động của doanh nghiệp như: các quy trình hoạt động nội bộ, các chính sách về khách hàng, các nguồn lực về tài chính cũng như phân tích đánh giá tình hình tài chính,.2 Mô hình quản lý tích hợp Lean và 6-Sigma. Tiết kiệm chi phí, tối ưu hóa sử dụng nguồn lực nhằm quản lý sản xuất hiệu quả, đảm bảo chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp luôn là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp. Mô hình sản xuất tinh gọn – Lean: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Mô hình này nhằm quản lý sản xuất hướng tới việc giảm tối đa chi phí trong sản xuất. Tập trung vào 3 yếu tố chính: Con người – Quá trình – Công nghệ.
Mô hình hướng tới sự tham gia của mọi người, với tư duy Lean (tinh gọn) luôn thường trực trong mỗi người khi tham gia vào các quá trình sản xuất, dịch vụ. Các quá trình tổ chức, quản lý sản xuất được tối ưu hóa nhằm loại bỏ tối đa các loại chi phí. Việc này được hỗ trợ bởi ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa. Công nghệ được dùng để hổ trợ con người và các quá trình sản xuất một cách hiệu quả nhất.
Và tất cả 3 yếu tố này cuối cùng nhắm tới là khách hàng, thỏa mãn được khách hàng chính là sự thành công. Mục tiêu tạo giá trị cho khách hàng là: ít lãng phí, giao hàng nhanh, chất lượng tốt. Hai yếu tố mấu chốt là giảm lãng phí và tăng tốc độ giao hàng. Kết hợp với đó là sự linh hoạt, tham gia của mọi người, trên nền tảng chuẩn hóa công việc.
Ưu điểm: tạo ra sản phẩm với chi phí ít nhất; Giao hàng trong thời gian nhanh nhất; tập trung vào tăng tốc độ của quá trình với giảm tối thiểu lãng phí bằng công nghệ máy móc; xác định chuỗi hoạt động giá trị; sử dụng cách tiếp cận kỹ thuật công nghiệp và hiệu quả sử dụng thiết bị nói chung. Khuyết điểm: chưa quan tâm đến chất lượng của sản phẩm, dịch vụ; không xem xét về khía cạnh khách hàng như là: sự hài lòng của khách hàng, số lượng khách hàng mới tăng lên,.; chỉ quan tâm đến quá trình sản xuất mà không quan tâm đến những quá trình nội bộ; không quan tâm đến các nguồn lực tài chính cũng như phân tích đánh giá tình hình tài chính;. Mô hình 6-sigma: Mô hình này xuất hiện vào đầu những năm 1980. Cho đến nay mô hình này đã được triển khai rộng rãi trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ nhằm nâng cao dần chất lượng phục vụ với cách thức kiểm soát chặt chẽ các khâu, các quá trình cung cấp theo mô hình 6 Sigma: sự cải tiến thành quả của các quá trình được dựa trên sự kiện để giải quyết vấn đề theo chất lượng đối với khách hàng; cải tiến sự hài lòng của khách hàng như: tăng trách nhiệm với khách hàng, giảm sự bất mãn của khách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hàng; giảm chi phí: giảm sai sót về sản phẩm, dịch vụ và thời gian chuyển giao.
Tăng hiệu suất, giảm chế phẩm. Tất cả nhằm làm tăng doanh thu và lợi nhuận. Ưu điểm: tập trung vào quá trình với giảm thiểu sự biến đổi, sử dụng các kỹ thuật thống kê để kiểm soát quá trình sản xuất hay dịch vụ.