Chương 1 đã nêu ra được tính cấp thiết của đề nghiên cứu, đồng thời khái quát về mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về NHTM 2.1 Khái niệm NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. NHTM hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của NHTM dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
NHTM được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ. NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Tóm lại, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của khách hàng.2 Chức năng NHTM có 3 chức năng chính: - Trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa những người có nguồn tiền thặng dư và những người có nhu cầu 6 vay vốn trong nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò nhận tiền, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản tiền chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho các bên tham gia như người gửi tiền và người đi vay… Nhận tiền gửi và cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang lại nguồn lợi nhuận và doanh thu lớn nhất cho NHTM. Chức năng trung gian tài chính giúp giảm thiểu nhiều chi phí như chi phí thông tin, giao dịch. Thông qua chức năng này, những người có một khoản tiền nhàn rỗi có thể cung cấp vốn của họ cho thị trường tài chính bằng cách cho ngân hàng vay qua hình thức gửi tiết kiệm và sau đó ngân hàng sẽ đem vốn này ra cho vay hoặc mua những cổ phiếu và chứng khoán.
Chức năng trung gian tài chính của NHTM được hình thành ngay từ khi xuất hiện mô hình ngân hàng này. Chức năng đem lại lợi ích cho các chủ thể như sau: Đối với khách hàng là người gửi tiền, họ sẽ thu lợi từ nguồn vốn tạm thời của mình dưới hình thức nhận tiền lãi, an toàn tiền gửi, tiện ích. Đối với khách hàng là người đi vay, giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế thỏa mản nhu cầu vốn tạm thời bị thiếu hụt của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh và đầu tư, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, tiện lợi, an toàn và hợp pháp. Đối với ngân hàng là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thông qua lợi nhuận từ các khoản chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, đồng thời đó là cơ sở để NHTM tạo bút tệ góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế.
Đối với nền kinh tế, chức năng này giúp điều hòa vốn tiền tệ từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt vốn góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tài chính, ngân hàng đã và đang thực hiện các chức năng xã hội của mình, vốn đầu tư được mở rộng, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân. - Trung gian thanh toán 7 Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi tiền của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi cả ở trong nước và nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ… Tùy theo nhu cầu mà khách hàng có thể lựa chọn cho mình một phương thức thanh toán phù hợp nhất.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi hoặc mang theo tiền bên mình để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo các khoản thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung làm thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Hoạt động thanh toán ngân hàng là cơ sở hoạt động tín dụng ngày nay.
Khi khách hàng thiếu tiền để thanh toán, ngân hàng sẽ thanh toán hộ và đó sẽ trở thành khoản vay của khách hàng. Trong NHTM, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ với chức năng trung gian tài chính tín dụng. Sử dụng tiền của những người có nguồn tiền nhàn rỗi cho những người có nhu cầu vay vốn trên thị trường. Chức năng này đem lại lợi ích: Đối với khách hàng giúp thanh toán một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, không làm mất nhiều thời gian của cả 2 bên, mang lại hiệu quả chính xác nhất.
Đối với ngân hàng, tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền gửi cho ngân hàng thông qua cung ứng một số dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng cao, tiết kiệm thời gian, chi phí, an toàn và hiệu quả cho người sử dụng. Đối với nền kinh tế, chức năng này lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quá trình tái sản xuất, đồng thời nó cũng giúp làm giảm khối lượng tiền mặt dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt. 8 - Chức năng tạo tiền (bút tệ) Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, ngân hàng đã phát hiện khách hàng sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi (chứng thư) mà ngân hàng đã cấp cho để chi trả các khoản nợ. Chính vì vậy, ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy ngân hàng được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng.
Đây chính là một phát minh có giá trị trong lịch sử hoạt động của tiền tệ. Muốn tạo ra bút tệ cần phải sử dụng cả hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng thì khó có thể tạo ra tiền, hoặc việc tạo ra tiền diễn ra ở một NHTM chỉ là tạm thời trong một lúc nào đó. Theo một cách nghĩ khác thì quá trình tạo ra tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cho vay của NHTM luôn có sự giúp đỡ của ngân hàng trung ương.3 Các hoạt động chủ yếu Ngân hàng là một tổ chức tài chính vì thế nên các hoạt động, dịch vụ tại ngân hàng ngày càng đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Các hoạt động chủ yếu tại ngân hàng bao gồm: hoạt huy động vốn, hoạt động tín dụng, đầu tư tài chính, cung ứng dịch vụ thanh toán,… - Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là nghiệp vụ mà ngân hàng bổ sung nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình thông qua các hình thức như: nhận tiền gửi khách hàng (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và TCKT, tiền gửi tiết kiệm), phát hành chứng khoán nợ, vay từ NHNN, NHTM khác hoặc các tổ chức tín dụng, nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán. - Cấp tín dụng: là hoạt động mà các NHTM cho khách hàng hoặc doanh nghiệp vay một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận và bên đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả nợ đúng như cam kết. Hình thức cấp tín dụng bao gồm: + Nghiệp vụ cho vay: Đây nghiệp vụ đặc trưng nhất của NHTM. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi 9 thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh.
Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu. Dựa vào mục đích, nghiệp vụ cho vay được phân chia thành: Cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và bất động sản,. Còn nếu căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành: Cho vay ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn,. + Nghiệp vụ chiết khấu: Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của các ngân hàng là nghiệp vụ NHNN mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng giao dịch trên trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp.
NHNN thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng NHNN đối với các ngân hàng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. + Nghiệp vụ cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính và bên thuê là khách hàng. + Nghiệp vụ bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.