CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH, HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM THEO MÔ HÌNH CAMELS 1. Tài chính và Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và hoạt động của NHTM a) Khái niệm về ngân hàng thương mại NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại: Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Peter S.
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính (Peter S. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ đầu tư (Peter S. Theo luật tổ chức tín dụng 1997: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. 7 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bảo Huyền Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Theo Luật số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tóm lại: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác.
NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. b) Hoạt động của ngân hàng thương mại Theo điều IV của Luật tổ chức tín dụng số 47/2012/QH12 quy định: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. 8 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bảo Huyền Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiềnhoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Khái niệm và bản chất của năng lực tài chính của ngân hàng thương mại a) Khái niệm tài chính Theo giáo trình Tài chính học (Mai Thanh Quế, 2013): “Tài chính là cách thức tạo lập, phân bổ và sử dụng nguồn tài chính của từng chủ thể trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu của từng chủ thể đó. Thực chất, tài chính phản ánh các quan hệ phân phối nguồn tài chính thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các mục tiêu khác nhau của các chủ thể trong xã hội”. b) Khái niệm năng lực tài chính của NHTM Trên thực tế thuật ngữ “năng lực tài chính” thường xuyên được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh, tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thống nào được đưa ra khi đề cập đến nội dung này.
Lã Thị Tâm (2015) cho rằng: “Năng lực tài chính của NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn để đáp ứng đối đa nhu cầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra của NHTM”. Hà Thị Thu Phương (2018) nhận định rằng: “Năng lực tài chính của ngân hàng là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn kinh doanh và lợi nhuận gia tăng hàng năm đảm bảo đủ nguồn lực để NHTM phát triển trong điều kiện cạnh tranh hiện đại”. Từ hai ý kiến trên, có thể thấy năng lực tài chính của NHTM không chỉ là nguồn vốn đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là cách thức khai thác, sử 9 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bảo Huyền dụng vốn đó mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Như vậy năng lực tài chính không chỉ thể hiện sực mạnh hiện tại mà còn thể hiện tiềm năng phát triển trong tương lai của ngân hàng. Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM Để đánh giá năng lực tài chính của một NHTM, ta có các tiêu chí sau: a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của NHTM là nguồn vốn thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng, chủ yếu là vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ của ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản trích lập giữ lại từ lợi nhuận hoạt động. VCSH được cấu thành bởi hai bộ phận: Vốn ban đầu và vốn hình thành trong quá trình hoạt động. Do tính chất kinh doanh đặc biệt, VCSH của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn.
Tuy vậy nhưng VCSH có vị trí vô cùng quan trọng. Một ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu càng cao thể hiện sự gia tăng của năng lực tài chính. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là một ngân hàng có quy mô vốn chủ lớn đã hoàn toàn được coi là năng lực tài chính tốt. Bởi nếu quy mô vốn chủ lớn nhưng sự mở rộng quá mức quy mô tài sản rủi ro không đi đôi với năng lực quản trị tương xứng có thể dẫn đến rủi rủi ro vượt quá khả năng chống đỡ của ngân hàng, đe dọa đến an toàn hoạt động ngân hàng.
b) Quy mô và chất lượng tài sản Do đặc thù là kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động để cho vay nên quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Trong tổng số tài sản của NHTM, tài sản sinh lời chiếm từ 80 - 90% và tài sản không sinh lời chiếm khoảng 10 - 20% tổng tài sản “Có”. Khi nói đến tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến quy mô của hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM.
Đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hóa trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm bảo tiền vay. 10 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Bảo Huyền Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng quy mô tổng tài sản của ngân hàng. Các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán gồm các khoản mục: chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn.
Hoạt động đầu tư được đánh giá qua các chỉ tiêu như: quy mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ trich lập dự phòng giảm giá chứng khoán,… c) Khả năng sinh lời Mục tiêu cuối cùng trong hoạt động của NHTM là khả năng sinh lời, do vậy khi đánh giá năng lực tài chính của NHTM, chỉ tiêu khả năng sinh lời của NHTM thường được xem xét. Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Đứng trên góc độ một NHTM, một NHTM có khả năng sinh lời cao sẽ có khả năng tích lũy cao, sẽ có điều kiện trang bị, đầu tư công nghệ từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút khách hàng. Đứng trên góc độ của một nhà đầu tư/người gửi tiền, họ sẽ yên tâm hơn khi giao tài sản của mình cho một ngân hàng có mức sinh lời cao, có thể bù đắp những thiệt hại cho họ khi có rủi ro xảy ra.
d) Khả năng thanh khoản Đảm bảo khả năng thanh khoản là một yêu cầu sống còn của một ngân hàng. Đây là khả năng ngân hàng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng khi khách hàng yêu cầu. Rủi ro thanh khoản xảy ra khi NHTM không đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư hoặc không đáp ứng được khả năng thanh toán của khách hàng.