Chương 1 đã trình bày các ý chính mà bài khóa luận muốn đạt được và đưa ra góc nhìn tổng quát về các vấn đề chính bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là đóng góp của đề tài. Đồng thời, khóa luận cũng xác định sẵn mẫu nghiên cứu là 29 ngân hàng trong vòng 10 năm tương đương với 290 mẫu và nghiên cứu thực hiện trên mô hình hồi quy tuyến tính để tìm mối quan hệ tuyến tính giữa các biến là vốn ngân hàng, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản tới hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Từ đó có thể xây dựng bước đi cụ thể và tiến đến tìm hiểu cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước ở chương tiếp theo là chương 2 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Khái niệm về hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Có nhiều khái niệm đã được ra về hiệu quả hoạt động của NHTM. Theo định nghĩa của Trung Ương Châu Âu (EC) đề cập, hiệu quả hoạt động của NHTM thể hiện qua khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của mình, bao gồm việc cấp tín dụng, huy động vốn và các dịch vụ tài chính khác. Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động là một phạm trù nhìn nhận khả năng của một đơn vị hay tổ chức trong việc tối ưu hóa doanh thu đầu ra trong điều kiện biết trước chi phí đầu vào hay cũng có thể nói hiệu quả chính là những kết quả tích cực thu được từ chuỗi hoạt động cụ thể. Định nghĩa của Farrell tương đồng với lý thuyết hệ thống của NHTM rằng hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các nguồn lực và yếu tố đầu vào thành sản phẩm, lợi nhuận hoặc giảm thiểu chi phí tối ưu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
Quan điểm tương đương khác lập luận rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là khả năng tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và lợi ích cho cổ đông (Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự, 2023) và Trương Quang Thông (2011) củng cố thêm rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được phản ánh qua kết quả lợi nhuận do hoạt động ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể hiểu được rằng đối với các ngân hàng thương mại, lợi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu và trọng tâm nhất và do đó khi phân tích về hiệu quả hoạt động của NHTM các nhà nghiên cứu thường tập trung vào kết quả kinh doanh hay nói cách khác là khả năng sinh lời của ngân hàng đó. Hơn nữa, hiệu quả hoạt động của NHTM còn mang hàm ý tối thiểu chi phí đầu vào và tối ưu hóa lợi nhuận đầu ra dựa vào các định nghĩa được đề cập trên. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của NHTM Để đo lường cho hiệu quả hoạt động hay khả năng sinh lời của NHTM, nhiều tác giả như Phan Thị Hằng Nga và cộng sự (2022), Athanasoglou và cộng sự (2008), 8 Jaouad và Lahsen (2018), Abbas và cộng sự (2018), Sahyouni và Wang (2018) đều thống nhất việc lựa chọn hai tiêu chí cơ bản là tỉ suất sinh lời trên tài sản bình quân (ROAA) và tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) để đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng đó.
Các tỷ lệ này được sử dụng để đo lường khả năng tạo ra thu nhập của doanh nghiệp so với chi phí và các phí tổn liên quan khác trong một khoảng thời gian nhất định (Nwachukwu, 2019). Theo Lê Hồng Nga và Nguyễn Thành Đạt (2021), ROAA giúp nhà đầu tư đánh giá khả năng tạo thu nhập thông qua đầu tư của ngân hàng trong khi ROAE giúp nhà đầu tư đo lường hiệu suất quản lý sử dụng tài sản hoặc tài nguyên của ngân hàng để sinh lời. Mặc dù đây là thước đo không hoàn hảo để đánh giá toàn diện về hiệu quả hoạt động của ngân hàng nhưng nó lại là một thước đo phổ biến trong các tài liệu về ngân hàng, nguyên nhân là vì nó có thể được tính toán khá dễ dàng từ thông tin kế toán mà không cần các giả định về giá trị thị trường của khoản nợ của công ty (Osborne và cộng sự, 2012). Nhiều nghiên cứu khác khi đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngoài việc sử dụng tiêu chí ROAA và ROAE thì còn sử dụng thêm chỉ số tỷ suất lợi nhuận lãi thuần NIM (Trầm Thị Xuân Hương, 2021; Chen và cộng sự, 2018; Ongore và Kusa, 2013, Uralov, 2020).
Biên lãi ròng NIM tính toán khoản thu nhập lãi từ các khoản cho vay và đầu tư so với số tiền mà ngân hàng phải trả lãi cho các khoản tiền gửi của khách hàng. Đây là một chỉ số quan trọng trong ngành ngân hàng, phản ánh chi phí của các dịch vụ trung gian của ngân hàng và hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Một biên lãi ròng cao chứng tỏ ngân hàng đạt được lợi nhuận cao hơn và có sự ổn định tốt hơn (Ongore và Kusa, 2013). Các chỉ số đo lường lợi nhuận bao gồm NIM, ROAA và ROAE phản ánh nên hiệu quả quản lý và hiệu suất chung của ngân hàng và một tỷ lệ lợi nhuận cao hơn cho một thấy hiệu suất hoạt động tốt hơn (Bilal và cộng sự, 2015).
Do đó, trên phương diện kế thừa những nghiên cứu trước, bài khóa luận tiến hành sử dụng 3 hệ số tài chính là ROAA, ROAE và NIM làm các hệ số đại diện cho hiệu quả hoạt động của hệ thống NTHM. Việc sử dụng cách tính chỉ số trung bình của tài sản và VCSH nhằm tính tỷ suất sinh lợi trong giai đoạn theo năm của ngân hàng một cách chính xác hơn và khắc phục được những biến động và thay đổi xảy ra đối với cả tài 9 sản và vốn chủ hữu trong năm tài chính. Ngoài ra, lý do sử dụng chỉ số trung bình là để tránh trường hợp đánh giá quá cao hoặc quá thấp thấp khoản sinh lời bởi cách tính đơn giản của ROA và ROE (Abbas và cộng sự, 2019). TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ VỐN NGÂN HÀNG 2.
Khái niệm về vốn ngân hàng Vốn ngân hàng được định nghĩa là khoảng chênh lệch giữa giá trị tài sản của ngân hàng và các khoản nợ phải trả và được coi là giá trị ròng của ngân hàng hoặc giá trị vốn chủ sở hữu của nó đối với các nhà đầu tư và vốn chủ sở hữu đại diện cho nguồn vốn dài hạn từ các cổ đông, nhà đầu tư và thành viên liên doanh đã góp vốn để đưa ngân hàng vào hoạt động. Vốn chủ sở hữu ban đầu của các ngân hàng thương mại được hình thành từ các nguồn khác nhau: đối với NHTM Nhà nước, đó là vốn được cấp từ ngân sách Nhà nước khi thành lập, trong khi đối với NHTM cổ phần, đó là vốn từ cổ đông thông qua việc mua cổ phần, bao gồm cả cổ phần thường và cổ phần ưu đãi. Mức vốn này được quy định đảm bảo đáp ứng theo mức vốn pháp định. Các thành phần chính của vốn chủ sở hữu của loại hình ngân hàng thương mại bao gồm: vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu bổ sung, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ dự trữ và các tài sản nợ khác.
Đây là nguồn tài trợ cốt lõi cho doanh nghiệp, có tính bền vững và lâu dài, đóng vai trò quan trọng trong việc định giá giá trị của ngân hàng. Các NHTM muốn triển khai hoạt động kinh doanh thì trước hết phải có đủ cơ sở nguồn vốn chủ sở hữu hay tiềm lực tài chính mới có thể duy trì hoạt động và phát triển (Huỳnh Thị Hương Thảo, 2018). Theo Athanasoglou và cộng sự (2005) diễn giải, vốn ngân hàng đề cập tới lượng vốn có sẵn để hỗ trợ và thực hiện các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và do đó, nó đảm nhận vai trò quan trọng như một mạng lưới an toàn của ngân hàng trong việc phòng tránh các viễn cảnh bất lợi. Vốn chủ sở hữu theo đánh giá của chuẩn mực Basel được xem như là một "tấm đệm" trong việc bảo vệ ngân hàng khỏi những rủi ro tiềm ẩn và đảm bảo sự ổn định cũng như an toàn của ngành ngân hàng trong mọi tình huống.
Do đó, vốn CSH được Basel phân loại thành vốn cấp 1 – thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc vốn khi xem xét chỉ số an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) của ngân hàng. Cơ sở lý thuyết về vốn ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của NHTM 2. Lí thuyết của Modigliani và Miller (Modigliani-Miller theorem - M&M theorem) Lí thuyết về vốn của Modigliani và Miller được phát triển bởi 2 nhà kinh tế học Franco Modigliani và Merton Miller ra đời vào năm 1958 được coi là lí thuyết sơ khai nghiên cứu về cấu trúc vốn của công ty và cũng là nền tảng cho các lý thuyết sau ra đời. Theo đó mệnh đề đầu tiên của lý thuyết về cơ bản khẳng định rằng trong điều kiện thị trường hoàn hảo, cơ cấu vốn của một doanh nghiệp không ảnh hưởng gì đến giá trị của doanh nghiệp đó.
Bởi giá trị của một tổ chức được định hình bằng giá trị hiện tại của dòng tiền trong tương lai nên cấu trúc vốn không có ý nghĩa gì đến nó. Bên cạnh đó, mệnh đề 2 của lý thuyết chứng minh rằng chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) vẫn sẽ giữ nguyên khi doanh nghiệp có thay đổi cấu trúc vốn của họ. Tuy vậy, những giả định của một thị trường hoàn hảo như không có chi phí giao dịch hay chi phí phá sản, không có thuế thu nhập doanh nghiệp lẫn thuế và thuế thu nhập cá nhân, thông tin đối xứng, và lãi suất vay bằng lãi suất phi rủi ro là không thực tế với môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngoài đời. Do đó, 2 tác giả đã có sự điều chỉnh ở các phiên bản sau dựa vào lý thuyết ban đầu khi thêm vào thuế và chi phí phá sản.
Theo phiên bản điều chỉnh của lý thuyết M&M, khi có thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí nợ vay sẽ được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế, nghĩa là lãi suất trả cho các khoản vay được khấu trừ thuế, nhờ đó làm giảm tổng chi phí vốn của doanh nghiệp. Lý thuyết mới cập nhật cũng xem xét về một cấu trúc vốn tối ưu trong đó mức nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng sao cho chi phí vốn tổng thể (WACC) là thấp nhất.