Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam — Chi nhánh Quảng Ngãi. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam — Chi nhánh Quảng Ngãi 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tìm hiểu một số luận văn thạc sỹ có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Cụ thé Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Hồ Quỳnh Như (2006) với đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Sacombank Quảng Ngãi”. Mục tiêu nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng của hoạt động phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Sacombank - Chỉ nhánh Quảng Ngãi để đưa ra các giải pháp nhằm đánh giá hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu các giải pháp trong phân tích hiệu quả hoạt động tại Chi nhánh Quảng Ngãi của Ngân hàng TMCP Sacombank. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thùy Nga (2011) với đề tai “Chat lượng tín dụng Ngân hàng, hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam - Chỉ nhánh Quảng Ngai”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đóng góp những ý kiến về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hà nội. Đó; tượng nghiên cứu: nghiên cứu chất lượng tín dụng tại Chi nhánh Eximbank Hà nội. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng về hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Eximbank Hà Nội. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Cường (2011) với đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài: Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hoạt động phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại; Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phân tích tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam; Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Vietcombank. Đói trong va phạm vi nghiên cứu: căn cứ vào những mục tiêu trên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình tập trung vào hoạt động phân tích tài chính ở Ngân hàng Vietcombank trong 3 năm 2008-2010. Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Thị Mai (2010) với đề tài “Chất lượng tín dụng Ngân hàng, hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hà Nội”. Mục đích nghiên cứu của đề tài là đóng góp những ý kiến về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hà nội.
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chất lượng tín dụng tại Chi nhánh Eximbank Hà nội. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng về hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Eximbank Hà Nội. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các tác giả tới nay chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề cơ bản của phân tích hiệu quả hoạt động nói chung và đi sâu vào phân tích đánh giá cụ thể tình hình hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng mà các tác giả nghiên cứu nói riêng. Từ đó, các tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại đơn vị nghiên cứu.
Trên cơ sở kế thừa những kết quả mà các Luận văn đi trước đạt được, đồng thời với sự nghiên cứu tìm hiểu nghiêm túc các vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng của bản thân tác giả, đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Quảng Ngãi” sẽ góp phần làm rõ thêm một số vấn dé co ban trong lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động và khái quát cụ thể thực trạng, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam — Chi nhánh Quảng Ngãi, đây là phạm vi nghiên cứu mà từ trước tới nay chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện cụ thể. CO SO LY LUAN VE PHAN TiCH HIEU QUA HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. TONG QUAN VE HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Để đưa ra được một định nghĩa về Ngân hàng thương mại, người ta thường phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Luật ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: ngân hàng được coi là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay như luật ngân hàng của Ấn Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác dé cho vay hay tai trợ, đầu tư. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy các ngân hàng thương mại đều có chung một tính chất, đó là: việc nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng.
Đề đáp ứng yêu cầu của thị trường, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII vừa thông qua Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thay thế Luật các Tổ chức tín dụng 1997. Theo đó Ngân hàng được định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tat cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó định nghĩa hoạt động ngân hàng: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dich vụ thanh toán qua tài khoản ”.
Chức năng của ngân hàng thương mại 1. Chức năng trung gian tin dung Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.
Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phân tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đây sự phát triển của nền kinh tế. Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi. Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn đề kinh doanh, chỉ tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian để tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở đề tồn tại và phát triển ngân hàng thương mại Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc day tăng trưởng nền kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luôn chuyền vốn, thúc day sản xuất kinh doanh phát triển. Trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ đề thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ. Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chỉ.
Đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí làm trung gian thanh toán. Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro trong vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là những khách hang ở xa nhau, điều này đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng.