Chương 1 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, trình bày tính cấp thiết của đề tài. Trong chương cũng đề cập mục tiêu tổng quát là xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Trên cơ sở xác định mục tiêu nghiên cứu, chương cũng thể hiện đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của nghiên cứu. Từ đó, trong chương tiếp theo bài nghiên cứu sẽ cung cấp, giới thiệu cơ sở lý thuyết và sơ lược các nghiên cứu đi trước cùng đề tài.
9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung nghiên cứu về những vấn đề cơ bản liên quan đến rủi ro tín dụng và các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Đầu tiên, nghiên cứu sẽ trình bày về những lý thuyết tín dụng ngân hàng , lý thuyết về ngân hàng TMCP và các chỉ tiêu đo lường RRTD. Tiếp theo, tác giả tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến đề tài về Các nhân tố ảnh hưởng RRTD trong các ngân hàng TMCP tại Việt Nam.1 Khung lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu 2.1 Lý thuyết tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân (2017), “Tín dụng là thuật ngữ xuất phát từ gốc chữ La tinh: Credittum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm”. Quan hệ tín dụng xuất hiện khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, tư hữu về tư liệu sản xuất cùng với sự tồn tại, phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Giai đoạn này, việc cấp tín dụng thường được thực hiện thông qua việc vay mượn bằng hiện vật – hàng hóa. Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã dẫn đến nhiều vấn đề trong quản trị nguồn vốn duy trì HĐKD. Một DN hoạt động thường trải qua ba giai đoạn: dự trữ nguyên vật liệu, giai đoạn sản xuất và giai đoạn đưa sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Trong giai đoạn đầu tiên, DN phải chuẩn bị và dự trữ các nguyên vật liệu cần thiết, các yếu tố đầu vào nên DN lúc nào thường thiếu vốn tạm thời, lúc này DN cần có vốn để bắt đầu sản xuất hàng hóa.
Nhưng khi qua giai đoạn sản xuất và hoàn thành sản phẩm. Sản phẩm được thị trường tiêu thụ mang lại nguồn thu nhập cho DN nhưng lúc này DN có thể chưa bước qua chu kỳ kinh doanh mới, có thể chưa dùng ngay thu nhập kinh doanh để bắt tái HĐKD nên tạm thời DN thừa vốn, DN muốn nguồn tiền nhàn rỗi này sinh lời trước khi tái sản xuất kinh doanh. Trạng thái thừa vốn và thiếu vốn trong DN chuyển đổi qua lại liên tục dẫn đến các nhu cầu cho vay – nhận vay giữa để đáp ứng nhu cầu của các chủ thể là cơ sở hình thành và phát triển quan hệ tín dụng. Trong quan hệ có sự chuyển 10 nhượng một lượng giá trị tạm thời, lượng giá trị có thể tồn tại dưới hình hiện kim hoặc hiện vật từ chủ thể cho vay sang chủ thể vay, trong đó người nhận tín dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Tín dụng là một biểu hiện của mối quan hệ kinh tế liên quan đến việc tạo ra và sử dụng quỹ tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời trong quá trình tái sản xuất và sinh hoạt theo nguyên tắc có hoàn trả.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân (2017) TDNH là hoạt động giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và chủ thể nhận tín dụng. Trong đó, ngân hàng chuyển nhượng tài sản cho bên nhận tín dụng sử dụng trong khoảng thời gian cụ thể theo thỏa thuận hai bên đã thống nhất. Chủ thể nhận tín dụng có trách nhiệm hoàn trả lại khoản tín dụng đã nhận từ ngân hàng vô điều kiện toàn bộ số vốn gốc và lãi cho bên cấp tín dụng khi đến hạn thanh toán.3 Phân loại tín dụng ngân hàng Tín dụng được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau • Phân loại dựa trên mục đích sử dụng Theo Bùi Diệu Anh (2020), cách phân loại này giúp các ngân hàng có cái nhìn tổng quát cơ cấu dư nợ theo mục đích cấp tín dụng, từ đó tùy thuộc vào định hướng của ngân hàng mà điều chỉnh, phân bổ cơ cấu dư nợ hợp lý. Cụ thể gồm các loại sau: Tín dụng sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức TDNH tài trợ vốn đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh cho các chủ thể kinh tế trong nhiều lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Loại hình tài trợ có thể là cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, cho vay mở rộng sản xuất, cho vay đầu tư cải tiến trang thiết bị kỹ thuật…Nguồn trả nợ trong hình thức cấp tín dụng sản xuất kinh doanh thường là nguồn thu từ HĐKD của chủ thể vay. 11 Tín dụng tiêu dùng: Đây là hình thức TDNH tài trợ vốn đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá nhân nhằm phục vụ và cải thiện chất lượng cuộc sống Loại hình cấp tín dụng có thể là cho vay mua nhà, phương tiện đi lại, cho vay mua sắm thiết bị gia đình. Nguồn trả nợ trong hình thức cấp tín dụng tiêu dùng thường là các nguồn thu nhập của chủ thể vay như lương, lợi tức từ tài sản đầu tư… • Phân loại dựa trên thời hạn cấp tín dụng Việc phân bổ nguồn vốn trong hoạt động cấp tín dụng có thể ảnh hưởng đến nhiều vấn đề trong HĐKD của ngân hàng như rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Phân loại tín dụng dựa trên thời hạn sẽ giúp các ngân hàng có kế hoạch phân bổ nguồn vốn phù hợp nhằm kiểm soát các rủi ro trên.
Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30/12/2016, tín dụng theo thời hạn bao gồm: Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn tối đa một năm. Đây là hình thức thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của DN, các khoản vay tiêu dùng có nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên một năm và tối đa năm năm. Hình thức tín dụng này thường được tài trợ vốn cho các hoạt động đầu tư tài sản cố định như mua sắm máy móc, trang thiết bị cải tiến và mở rộng quy mô kinh doanh, bổ sung vốn lưu động thường xuyên giúp DN luôn có tình trạng vốn ổn định.
Ngoài ra trong lĩnh vực nông nghiệp, tín dụng trung hạn thường tài trợ vốn cho hoạt động xây dựng trang trại, vườn cây và đầu tư vào các mùa vụ. Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên năm năm. Đây là hình thức cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu dài hạn và có quy mô lớn, cần một lượng vốn lớn và thời gian thu hồi vốn dài như xây dựng nhà ở, công xưởng, cầu đường… 12 • Phân loại dựa trên mức độ tín nhiệm của chủ thể vay (Tính chất đảm bảo) Trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, rủi ro liên quan đến khách hàng có vấn đề trong khả năng trả nợ là điều không thể tránh khỏi trong các giao dịch tín dụng. Song song với hoạt động cấp tín dụng, hoạt động kiểm soát RRTD cũng được ngân hàng quan tâm và chú trọng.
ngân hàng phải luôn có các biện pháp kiểm soát và QLTD phù hợp với từng khách hàng. Một trong những biện pháp đó là quy định về bảo đảm tín dụng. Theo Bùi Diệu Anh (2020), Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân (2017), phân loại TDNH theo hình thức này bao gồm: Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức ngân hàng cấp tín dụng dựa trên tài sản bảo đảm của người đi vay hay người bảo lãnh, theo đó khoản vay của khách hàng phụ thuộc vào các biện pháp bảo đảm khoản vay của ngân hàng và phù hợp với quy định nhà nước. Đảm bảo tín dụng là một trong những cơ sở pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn trả nợ thứ hai ngoài nguồn trả nợ thứ nhất trong trường hợp khách hàng có vấn đề về khả năng trả nợ.
Tín dụng không đảm bảo: Là hình thức ngân hàng cấp tín dụng không có biện pháp bảo đảm như tài sản thế chấp hay bảo lãnh bên thứ ba. Ngân hàng cung cấp vốn cho chủ thể đi vay dựa vào uy tín của khách hàng. Sau khi ngân hàng thẩm định và đánh giá khách hàng theo các quy chuẩn của ngân hàng, với các khách hàng có pháp lý tốt, có tiềm năng tài chính mạnh, có phương án vay khả thi thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa trên sự tín nhiệm của ngân hàng dành cho khách hàng thể hiện qua các quy chuẩn của ngân hàng mà không cần thêm nguồn trả nợ. 13 • Phân loại dựa trên hình thức cấp tín dụng Theo luật TCTD, ngân hàng được thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng theo các hình thức dưới đây: Cho vay: Là hình thức mà chủ thể cho vay chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao một khoản tiền cho chủ thể đi vay sử dụng vào một mục đích cụ thể, xác định trong một khoảng thời gian cụ thể, với điều kiện phải hoàn trả cả khoản vay theo thỏa thuận Chiết khấu: Là hình thức trong đó chủ thể cho vay mua các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của chủ thể cần cấp tín dụng trước khi đến hạn thanh toán có bảo lưu quyền truy đòi.
Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cung cấp tín dụng cho khách hàng thông qua sự cam kết của một TCTD hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, bên bảo lãnh cam kết sẽ thực hiện các NVTC thay mặt cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các cam kết. Đồng thời, khách hàng phải chịu trách nhiệm nhận nợ và hoàn trả cho TCTD hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo các thoả thuận đã được thỏa thuận. Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng được thực hiện bằng việc mua lại các khoản phải thu của bên bán hàng và các khoản phải trả của bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ giữa khách hàng và các bên mua, bán.
Cho thuê tài chính: Là hình thức chủ yếu là trung và dài hạn căn cứ trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê với bên thuê, trong đó bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên đi thuê và bảo lưu quyền sở hữu tài sản trong khoảng thời gian thực hiện hoạt động cấp tín dụng.