Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản lý. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về quỹ tín dụng nhân dân a. Khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân Năm 1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ “Đề án thí điểm thành lập QTDND” ở Việt Nam và ngày 27/7/1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 390/TTg cho phép triển khai đề án thí điểm thành lập Hệ thống QTDND. QTDND là một tên gọi riêng của các Tổ chức tín dụng hợp tác.
Về tổ chức bộ máy, QTDND chịu sự điều chỉnh bởi Luật Hợp tác xã, về nội dung hoạt động thì chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng. Luật các Tổ chức tín dụng hiện hành có định nghĩa về QTDND như sau: “QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Các hoạt động cơ bản của quỹ tín dụng nhân dân Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các hoạt động cơ bản của QTDND gồm: - Huy động vốn: nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân khác bằng đồng Việt Nam. - Cho vay: Hoạt động cho vay của QTDND chủ yếu nhằm mục đích tương trợ giữa các thành viên để thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống của các thành viên QTDND.
+ QTDND cho vay thành viên bằng đồng Việt Nam. + QTDND chỉ cho vay khách hàng là tổ chức, cá nhân không phải thành viên trên cơ sở đảm bảo bằng sổ tiền gửi do chính QTDND phát hành. + QTDND cho vay hộ nghèo không phải thành viên theo danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt. 10 - Hoạt động khác: cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho các thành viên; gửi tiền tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam để điều hòa vốn.2 Khái niệm tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2016) “tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo Lê Văn Tề (2013), tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch về tài sản giữa hai chủ thể, một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi khi đến hạn thanh toán. Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có định nghĩa cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Qua lược khảo các tài liệu trên, có thể thấy tín dụng chứa đựng ba yếu tố sau: - Có sự chuyển giao tiền hoặc tài sản; - Sự chuyển giao có thời hạn nhất định; - Sự chuyển giao có kèm theo chi phí.3 Khái quát về rủi ro tín dụng a. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Lê Văn Tư (2005) rủi ro tín dụng là rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận dẫn đến các khoản cho vay hay các khoản phải thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được.
11 Nguyễn Minh Kiều (2009) định nghĩa rủi ro tín dụng là loại rủi ro do khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng, phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng. Theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD được ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, qua lược khảo các tài liệu trên, có thể khái quát rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra cho TCTD do khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ phần nợ gốc và lãi theo cam kết. Bản chất của rủi ro tín dụng Ngày nay, hoạt động kinh doanh của ngân hàng đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu và đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng.
Các ngân hàng luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận từ các hoạt động cấp tín dụng, đồng thời lại muốn giảm thiểu rủi ro liên quan đến các hoạt động này. Vì vậy, rủi ro tín dụng là vấn đề được các ngân hàng đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, các ngân hàng không thể đo lường cũng như dự đoán được mọi sự bất ngờ có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, khả năng trả nợ vay của khách hàng có thể thay đổi do nhiều nguyên nhân. Vì vậy, sẽ luôn có những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng không thể tránh khỏi hay loại bỏ rủi ro, mà chỉ có thể chủ động các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro.
Khi rủi ro tín dụng xảy ra thường tạo cho ngân hàng những thiệt hại về tài chính. Nhưng thiệt hại về uy tín của ngân hàng, về mất lòng tin của khách hàng sẽ tạo ra những tổn thất nặng nề hơn. Nguồn vốn để cho vay của ngân hàng chủ yếu là từ nguồn vốn huy động, cho nên khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng. Đồng thời ảnh 12 hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, do khi không thu hồi được nợ dẫn đến phát sinh nợ xấu, thì ngân hàng phải trích lập khoản dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng dẫn đến tăng chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận.
Vì vậy, nhận diện được các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng sẽ giúp các TCTD có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, đảm bảo an toàn hoạt động. Đo lường rủi ro tín dụng Trong đề tài nghiên cứu này, rủi ro tín dụng sẽ được đo lường thông qua chất lượng khoản vay, biểu hiện bằng trạng thái nợ mà khoản vay được phân loại theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các khoản nợ vay của các QTDND sẽ được phân vào 05 nhóm như sau: - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ trong hạn và các tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; + Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; + Các khoản nợ quá hạn nhưng khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ bị quá hạn đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; + Các khoản nợ được cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ nhưng khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài hạn, ba (03) tháng đối với các 13 khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; đồng thời có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục và tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đánh giá là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại còn lại.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; + Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn đƣợc điều chỉnh lần đầu); + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; + Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; + Các khoản nợ khác của cùng một khách hàng bị liên đới.