Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng NNVPTNT VN Chi nhánh Sóc Trăng. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng NNVPTNT VN Chi nhánh Sóc Trăng. 11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm tín dụng NHTM “NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. [Đạo luật của Ngân hàng Cộng hòa Pháp (1941)] Như vậy, NHTM là một trung gian tài chính đứng giữa những người đi vay và những người tín dụng, thông qua đó kiếm lợi nhuận cho mình. Nói cách khác, hoạt động của NHTM là sự thể hiện vai trò trung gian giữa những người tín dụng và người đi vay trên thị trường tài chính. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng khi nó đảm bảo cho hệ tuần hoàn (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và từ đó, góp phần bôi trơn cho các hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn mới hình thành và bước đầu phát triển.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại nói riêng và của các tổ chức tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro lớn nhất. Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng. [Phan Thị Thu Hà (2013)] Theo Hồ Diệu (2010), Tín dụng (Credit) xuất phát từ tiếng Latinh là Credo( tin tưởng, tín nhiệm ) là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên tín dụng (Ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân hoặc tổ chức ) trong đó bên tín dụng chuyền giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên tín dụng khi đến hạn thanh toán. 12 Như vậy ta có thể hiểu tín dụng NHTM là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng trong đó ngân hàng đóng vai trò là người chuyển giao tài sản cho khách hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên tín dụng khi đến hạn thanh toán.
Việc tuân thủ các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Phân loại tín dụng NHTM Trong nền kinh tế thị trường, các hình thức tín dụng ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Các hình thức này phán ánh đặc thù riêng của mỗi loại hình tín dụng khác nhau để từ đó các NHTM đưa ra các chính sách, chế độ thích hợp cho mỗi loại tín dụng trong từng thời kỳ phát triển nhất định. Về hình thức, tín dụng có rất nhiều cách phân loại theo những tiêu thức khác nhau, trong phạm vi này bài viết xin đề cập cách phân chia hình thức tín dụng phổ biến như sau: a.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn tối đa 12 tháng, thường được sử dụng để tín dụng bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào việc mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,xây dựng các dự án hoặc công trình có quy mô nhỏ và có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm trở lên.
Chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về vốn dài hạn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất các công trình có quy mô lớn, như các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình dự án thuộc điện ưu đãi đầu tư của nhà nước … 13 b. Căn cứ vào hình thái giá trị của vốn tín dụng - Tín dụng bằng tiền: là loại tín dụng mà hình thái giá trị vốn tín dụng ngân hàng cung cấp cho khách hàng là tiền. Đây là hình thái tín dụng chủ yếu của NHTM và nó được thực hiện dưới kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, tín dụng trả góp, thấu chi … - Tín dụng bằng tài sản: là loại tín dụng mà hình thái giá trị vốn tín dụng ngân hàng cung cấp cho khách hàng là tài sản (đối với NHTM chủ yếu dưới hình thức tín dụng thuê mua ). Trong thời hạn tín dụng vốn, những tài sản này chính là tài sản đảm bảo cho các khoản vay.
Trong phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu loại hình tín dụng bằng tiền mà không nghiên cứu tín dụng bằng tài sản (Tín dụng thuê mua) c. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng - Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và kinh doanh hàng hoá. Gồm những loại hình như tín dụng bất động sản, tín dụng công nghiệp và thương mại, tín dụng nông nghiệp, thuê mua… - Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ và các hàng hoá tiêu dùng khác. Căn cứ sự bảo đảm trong quan hệ tín dụng - Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi tín dụng đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản thế chấp (tài sản này phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay ), tài sản cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba.
- Tín dụng không có đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản thế chập, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Căn cứ vào phương pháp tín dụng - Tín dụng hoàn trả trực tiếp: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ 14 cho ngân hàng. - Tín dụng hoàn trả gián tiếp: trong hình thức tín dụng này, việc hoàn trả nợ vay được thực hiện thông qua người thứ ba. Các loại tín dụng gián tiếp mà ngân hàng NHTM thực hiện là chiết khấu thương mại, mua các phiếu bán hàng.
mua các khoản nợ của các doanh nghiệp … Trong phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu loại hình tín dụng hoàn trả trực tiếp mà không nghiên cứu tín dụng hoàn trả gián tiếp 1. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng của ngân hàng được sử dụng như là công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi vào quá trình tái sản xuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động liên tục của vốn. Đối với các doanh nghiệp Nền kinh tế không ngừng phát triển, hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều và nhu cầu con người không ngừng nâng cao. Một DN muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu cầu đó.
Như vậy, DN phải không ngừng đổi mới, mạnh dạn đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất định. Một trong những nguồn vốn quan trọng đối với DN đó là nguồn vốn vay từ ngân hàng. DN có thể vay vốn NH theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh.
Thủ tục thời gian nhanh chóng và ít phức tạp mà không gia tăng sự kiểm soát của người bên ngoài đối với hoạt động kinh doanh của DN như trong trường hợp phát hành cổ phiếu. Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất trung và dài hạn của NH là chi phí khá cao đối với DN. Nó buộc các DN phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt được không chỉ đủ trả vốn và lãi cho NH mà phải đem lại lợi tức cho mình. Dó vậy, lãi suất tín dụng của NH là đòn bẩy thúc đẩy DN khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.
Đối với NHTM Hoạt động của NHTM trong cơ chế thị trường là hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt này đòi hỏi mỗi NH phải thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của chính mình. Trong đó, hoạt động tín dụng được xem là sự cần thiết để nâng cao tính cạnh tranh của NH. Ngoài ra tín dụng còn là một nghiệp vụ mang lại lợi ích chủ yếu cho NHTM.
Bời lẽ vốn là những khoản tín dụng có quy mô lớn, lãi suất cao, thời gian dài lãi thu sẽ lớn và ổn định. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả tín dụng đang là những vấn đề mà các ngân hàng đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng như phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế quốc gia. Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa vốn, từ những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế, góp phần đầy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-nông nghiệp - dịch vụ hiện đại và tăng cường xuất khấu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. NHTM luôn quản lý tín dụng bằng các quy định và chính sách của mình.