Chương 1 sẽ nghiên cứu về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại và quan trọng hơn là chất lượng tín dụng trong lĩnh vực này. Chúng ta sẽ tìm hiểu về các khái niệm và đặc điểm cốt lõi của hoạt động tín dụng ngân hàng, cùng với những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng. Bên cạnh đó, chương này sẽ đem đến một cái nhìn toàn diện bằng cách phân tích kinh nghiệm của các NHTM khác, nhằm tìm hiểu cách họ đã nâng cao chất lượng tín dụng trong hoạt động của mình. Từ đó, chúng ta có thể rút ra những bài học quý giá và áp dụng vào Vietinbank chi nhánh 11, để tiến xa hơn trong việc cải thiện CLTD.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thƣơng Mại Theo Hồ Diệu (2003) định nghĩa: "Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán".
Mác định nghĩa: "Tín dụng dƣới các hình thức biểu hiện đơn giản là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ, đã khiến cho một ngƣời này giao cho ngƣời khác một số tƣ bản nào đó dƣới hình thái tiền hoặc hàng hóa đƣợc định giá thành một số tiền nhất định nào đó. Số tiền này đƣợc trả trong một thời hạn nhất định, …. Khi tƣ bản đƣợc cho vay ngƣời ta tăng số tiền phải hoàn trả thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định coi là giá để trả về quyền sử dụng tƣ bản". Theo Bùi Diệu Anh (2021) thì "tin dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân, chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi".
9 Nguyễn Minh Kiều (2013) định nghĩa "Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định". Có nhiều cách định nghĩa riêng về HĐTD của NHTM, tuy nhiên chung nhất lại có thể hiểu hoạt động tín dụng là một giao dịch về hiện kim hoặc hiện vật theo phƣơng thức có thời gian hoàn trả và chi phí sử dụng hiện kim, hiện vật đó theo thỏa thuận giữa hai bên.2 Đặc điểm về hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thƣơng Mại Thứ nhất, yếu tố lòng tin là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. Cơ sở để xây dựng lòng tin của NN là tin khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả, tin khách hàng có khả năng trả nợ gốc và lãi. Do đó, để cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, ngân hàng luôn tìm hiểu, thu thập thông tin và số liệu về khách hàng, từ đó phân tích và cân nhắc để ra quyết định cho vay.
(Đặng Hà Giang, 2014) Thứ hai, theo Đặng Hà Giang (2014), hai đặc điểm tính có hoàn trả và tính thời hạn đƣợc sử dụng để phân tích về đặc điểm của hoạt động tín dụng tại NHTM. "Tín dụng tại NHTM là việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng một số tiền từ một ngân hàng sang một cá nhân, tổ chức doanh nghiệp hoặc TCTD, NHTM khác trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó thời gian đó sẽ kết thúc và số tiền sẽ đƣợc trả lại NHTM ban đầu. Số tiền để thực hiện HĐTD của NHTM là bằng cách huy động vốn từ các đơn vị khác trong nền kinh tế, NH đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập nguồn vốn để cho vay". Do đó, số tiền đƣợc hoàn trả cho NHTM phải có thêm khoản chi phí sử dụng tín dụng để NHTM thực hiện trả chi phí huy động vốn và lợi nhuận hoạt động của NH.
Thứ ba, "Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố rủi ro", thật vậy, đặc điểm nổi bật nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao. Việc hoàn trả khoản tín dụng của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan (từ phía khách hàng) mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan 10 (biến động nền kinh tế, thiên tại dịch bệnh, lạm phát,.ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. (Đặng Hà Giang, 2014) Thứ tƣ, theo nghiên cứu của Đặng Hà Giang (2014) thì "hoạt động tín dụng của NHTM có đặc điểm tính nhạy cảm và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật", nhu cầu tín dụng của NHTM phụ thuộc vào biến động của nền kinh tế, bởi khi nền kinh tế ổn định, các doanh nghiệp đang trải qua tăng cƣờng nhu cầu sản xuất và kinh doanh, dẫn đến sự gia tăng nhu cầu vay tín dụng. Trái lại, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, khách hàng cá nhân thƣờng trải qua giảm sút khả năng chi trả cho nhu cầu tiêu dùng và mua sắm.
Vì vậy, họ thƣờng có nhu cầu tín dụng cao trong thời điểm này. CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng Thƣơng Mại Các tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), Nguyễn Đăng Dơn (2012) và Nguyễn Minh Kiều (2013) đã đƣa ra quan điểm về CLTD trong NHTM và hệ thống chỉ tiêu phân tích chất lƣợng tín dụng (CLTD). Các chỉ tiêu này bao gồm cả các chỉ tiêu định tính và định lƣợng.
Nhóm chỉ tiêu định tính phản ánh các nội dung liên quan đến tình hình hoạt động của khách hàng và các biểu hiện trong quản lý tín dụng của ngân hàng. Nhóm chỉ tiêu định lƣợng bao gồm các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn, nợ xấu, khả năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng, hiệu suất sử dụng vốn, trích lập dự phòng và bù đắp RRTD, phân tán rủi ro. Và các tác giả ra đƣa ra khái niệm về CLTD nhƣ sau: "Chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự tăng trƣởng về quy mô, hiệu quả và an toàn trong hoạt động tín dụng, thể hiện năng lực quản lý tín dụng của ngân hàng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra và đáp ứng tốt nhất nhu cầu tín dụng vì lợi ích của khách hàng". Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Đông (2012) định nghĩa: "Chất lƣợng tín dụng là mức độ ngân hàng thực hiện hoạt động tín dụng đáp ứng vốn cho sự phát triển kinh tế của đất nƣớc và đạt đƣợc những mục tiêu đề ra về quy mô, an toàn, sinh lời phù hợp với quy định pháp luật hiện hành trong nƣớc và thông lệ quốc tế.
Hay Chất lƣợng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động 11 tín dụng của NHTM. Chất lƣợng tín dụng thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn về vốn và khả năng sinh lời của NH". Từ những định nghĩa trên, tác giả đƣa ra quan điểm về CLTD tại NHTM nhƣ sau: Chất lƣợng tín dụng là một tổ hợp các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả hoạt động của hoạt động tín dụng tại NHTM, CLTD đƣợc đánh giá tốt khi bảo đảm đƣợc độ bao phủ các khoản nợ, nợ xấu và nợ quá hạn thấp nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro mất vốn cho NH, tối ƣu hóa lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cho NH. Khái niệm chất lƣợng tín dụng của khách hàng Tín dụng từ phía khách hàng là một khái niệm liên quan đến khả năng của khách hàng để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của họ theo thỏa thuận đã hứa.
Điều này liên quan đến khả năng của họ để trả nợ đúng hạn và đáng tin cậy. Dƣới đây là 5 yếu tố quan trọng để đánh giá chất lƣợng tín dụng từ phía khách hàng. Lịch sử tín dụng (Credit history): Điều này liên quan đến việc khách hàng đã có quá trình vay tiền, sử dụng thẻ tín dụng hoặc các khoản vay trƣớc đó nhƣ thế nào. Ngân hàng và tổ chức tài chính thƣờng kiểm tra lịch sử tín dụng để xác định xem khách hàng đã trả nợ đúng hạn và đầy đủ trong quá khứ hay chƣa.
Nếu khách hàng có lịch sử tín dụng tích cực, họ có khả năng cao sẽ đƣợc xem là đáng tin cậy trong việc trả nợ trong tƣơng lai. Điểm tín dụng (Credit score): Điểm tín dụng là một con số đại diện cho tình trạng tín dụng của khách hàng. Điểm tín dụng thƣờng đƣợc tính toán dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm lịch sử tín dụng, tỷ lệ nợ/đòi hỏi, độ tuổi của tài khoản tín dụng, và các yếu tố khác. Điểm tín dụng cao thƣờng báo hiệu rằng khách hàng có khả năng trả nợ tốt hơn.
Thu nhập và năng lực tài chính: Khả năng trả nợ của khách hàng đƣợc ảnh hƣởng bởi thu nhập hàng tháng và năng lực tài chính của họ. Nếu khách hàng có thu nhập ổn định và đủ lớn để đáp ứng các khoản nợ, họ có khả năng cao sẽ đƣợc xem là có chất lƣợng tín dụng tốt. 12 Tỷ lệ nợ/đòi hỏi (Debt-to-income ratio): Đây là một chỉ số quan trọng để đo lƣờng tỷ lệ giữa số tiền nợ khách hàng phải trả và tổng thu nhập của họ. Nếu tỷ lệ này quá cao, khách hàng có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ và ngân hàng có thể coi đây là dấu hiệu tiềm ẩn về khả năng trả nợ không tốt.
Stabilitas (công việc): Tính ổn định công việc của khách hàng cũng ảnh hƣởng đáng kể đến khả năng trả nợ. Nếu khách hàng có một công việc ổn định và lâu dài, điều này có thể là dấu hiệu tích cực cho ngân hàng về khả năng trả nợ đều đặn và đáng tin cậy. Tất cả những yếu tố trên đều cùng nhau tạo nên hình ảnh chung về khả năng tín dụng của khách hàng từ phía họ. Ngân hàng và các tổ chức tài chính sử dụng những thông tin này để đƣa ra quyết định về việc cấp tín dụng và xác định mức lãi suất phù hợp cho khách hàng 1.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng Thƣơng Mại Chất lƣợng tín dụng tại NHTM là một khái niệm có phạm vi rộng, vì vậy để đƣa ra một hệ thống các chỉ tiêu đáng tin cậy để đánh giá chất lƣợng tín dụng một cách chính xác và đầy đủ không phải là một việc đơn giản.