lời mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp này gồm có 3 chƣơng: 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Ngân hàng thƣơng mại Thuật ngữ Ngân hàng thƣơng mại (Commercial Bank) là một trong các thuật ngữ đƣợc dùng trong các TCTC nhằm thực hiện chức năng là cung cấp về tiền tệ và cũng là một đơn vị trung gian để nhằm trao đổi về các công cụ về tài chính cho khách hàng cá nhân và công ty. Là đơn vị chuyên làm các dịch vụ về vốn và tiền tệ trong hoạt động chính của ngân hàng và đƣợc coi là một loại hình doanh nghiệp đặc thù.
Các sản phẩm chủ yếu của ngân hàng là các khoản tiền tệ nhƣ vậy NHTM chính là một nơi cung cấp về vốn và cũng giúp khách hàng tiêu thụ đƣợc nguồn vốn của mình. Từ đó phát sinh các giao dịch qua lại giữa ngân hàng và khách hàng và tạo ra các hoạt động tƣơng tác với nhau và ngƣợc lại. Theo Giáo sƣ Peter S. Rose: "Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế." Trong suốt hàng trăm năm qua, ngân hàng, hoặc Ngân hàng thƣơng mại (NHTM), là một tổ chức đã tồn tại, hoạt động và phát triển trong nền kinh tế hàng hóa.
Các NHTM thƣờng nhận tiền từ ngƣời tiêu dùng để mở rộng tín dụng, chiết khấu và thanh toán. Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã". Cụ thể hơn, "Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận".
Ngoài ra, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định cách thức hoạt động và tổ chức NHTM, "Ngân hàng thương mại là ngân hàng được 8 thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật." Các NHTM kiếm tiền chủ yếu bằng cách tính lãi suất và cung cấp cho khách hàng nhiều loại khoản vay khác nhau. Khách hàng gửi tiền vào tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, tài khoản thị trƣờng tiền tệ và chứng chỉ tiền gửi. Khách hàng gửi tiền sẽ nhận lãi trên tiền gửi của họ. Lãi suất trả cho ngƣời đi vay cao hơn lãi suất trả cho ngƣời gửi tiền.
Do đó, nguồn lợi nhuận chính của NHTM là sự khác biệt giữa hai mức lãi suất. Hoạt động tín dụng Thuật ngữ "tín dụng" đƣợc sử dụng rất nhiều trong nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và ngày càng đa dạng. Khái niệm tín dụng đã đƣợc tác giả đề cập đến trong nhiều bài viết cho đến thời điểm này.
Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia Việt Nam, "tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả". Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, "Hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo hành ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Do đó, tác giả tin rằng HDTD của NHTM nhằm đáp ứng các khoản vay nhỏ thông qua các TCTC cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình. Hình thức: cho vay, chiết khấu, đổi vé, tín dụng hóa đơn.
Do đó, theo quan điểm của tác giả, HDTD của NHTM bao gồm việc cho vay, chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá để cung cấp các sản phẩm tín dụng có quy mô nhỏ cho các công ty, doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình. Những vấn đề lý luận về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Chức năng và vai trò của tín dụng Chức năng tập trung và phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả. "Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dƣới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sẵn xuất, kinh doanh dịch vụ và tiêu dùng, vốn tín dụng là một bộ phận quan trọng trong nguồn vốn lƣu động của các doanh nghiệp.
Ngoài ra, vốn tín dụng còn là nguồn vốn đầu tƣ quan trọng trong lĩnh vực đấu tƣ cho tài sản cố định của doanh nghiệp." (Nguyễn Tài Trƣờng, 2016, tr. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, vốn tiền tệ đƣợc phân phối dƣới hình tức tín dụng theo hai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp. Phân phối trực tiếp là vốn đƣợc chuyển từ một tổ chức tạm thời chƣa sử dụng sang một tổ chức trực tiếp sử dụng nó để kinh doanh, mua sắm và sản xuất. Phƣơng pháp phân phối này đƣợc sử dụng trong tín dụng thƣơng mại và khi các tập đoàn phát hành trái phiếu.
Phân phối gián tiếp là vốn đƣợc phân phối gián tiếp khi đƣợc thực hiện thông qua các trung gian tài chính nhƣ NHTM, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính. Chức năng tiết kiệm tiền mặt. Lúc đầu, tiền tệ lƣu thông là tiền đúc đủ giá, nhƣng khi nền kinh tế phát triển, đã làm xuất hiện việc lƣu thông các dấu hiệu giá trị để thay thế cho tiến đúc đủ giá. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng, HDTD tiếp tục đƣợc tập trung hóa và đa dạng hóa đã dẫn đến sự phát triển của các phƣơng thức thanh toán thay thế và các nỗ lực phi tài chính trong các tổ chức kinh doanh.
Điều này làm giảm lƣợng tiền mặt sẵn có và giảm chi phí tiền mặt trong lƣu thông, trong khi vẫn có một lƣợng tiền mặt linh hoạt, có thể đƣợc sử dụng để đáp ứng kịp thời các mục tiêu sản xuất và phát triển. HDTD có một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu đổi mới, trong tập trung và phân phối vốn tiền tệ, tín dụng đƣợc nâng lên thành một chức năng toàn diện và nhạy cảm, đƣợc coi là mục đích đích thực của nền kinh tế 10 Tuy nhiên, tín dụng có khả năng phản ánh và chi phối cách thức nền kinh tế phân phối sản phẩm quốc gia đồng thời phục vụ mục tiêu bảo toàn đồng tiền gắn với thanh toán không dùng tiền mặt. Hoạt động cho vay của NHTM rất quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế và ngƣời tiêu dùng mà họ cấp tín dụng, cụ thể là: Đối với nền kinh tế Tạo điều kiện cho việc truyền vốn từ những ngƣời tham gia xã hội khác (cá nhân, hộ gia đình, tập đoàn và chính phủ) để cung cấp thêm nguồn lực cho những ngƣời thiếu vốn để hoàn thành mục tiêu tiêu dùng và xuất khẩu của họ là mục tiêu kinh tế chính của TDNH.
Nó thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và phân phối tốt các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của các lĩnh vực, lĩnh vực thƣơng mại, hỗ trợ sự phát triển của các lĩnh vực này và tạo ra một hệ thống hiện đại, hiệu quả. Ngƣợc lại, cải cách sản xuất và kinh tế của quốc gia sẽ đƣợc ảnh hƣởng tích cực bởi ngành nghề. Điều này sẽ dẫn đến sự phát triển cân bằng và bền vững và hỗ trợ phát triển quan hệ kinh tế với các công ty nƣớc ngoài.
Các khoản vay ngân hàng đã trở thành một phần của nền kinh tế quốc gia vì nền kinh tế trong nƣớc gắn liền với nền kinh tế toàn cầu. tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy tiền tệ và hàng hóa, kiểm soát giá cả và thúc đẩy các giao dịch tài chính trên toàn cầu. Ngân hàng đóng vai trò cung cấp tín dụng cho phép vay tiền hoặc thanh toán các khoản vay quốc tế giữa các quốc gia với nhau trong ngành xuất nhập khẩu. trong nhiều lĩnh vực.
Điều này đặc biệt đúng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Ngoài ra, hàng hóa. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn vay để thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu bằng cách đầu tƣ thiết bị, máy móc và công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lƣợng và giảm giá thành và danh tiếng trên thị trƣờng. Trong nền kinh tế, các giao dịch cho vay của ngân hàng có tầm quan trọng rất lớn trong việc điều hành chung nền kinh tế.
Thuế thu nhập và tiền lãi dựa trên GICIT cung cấp một phần đáng kể doanh thu của tiểu bang. Đây là một thủ tục vẫn 11 đƣợc các chính phủ sử dụng để điều tiết các nền kinh tế lớn. Chính phủ giám sát tài chính của các NHTM bằng cách sử dụng các công cụ nhƣ lãi suất, chiết khấu, giao dịch thị trƣờng mở và tỷ lệ dự trữ tiền gửi, kiểm soát lƣu thông và các nguyên tắc ngân hàng cơ bản. Đối với khách hàng Đáp ứng đầy đủ nhu cầu về số lƣợng và chất lƣợng vốn của khách hàng.
Các khoản vay tín chấp có lợi cho nhiều khách hàng vì chúng a toàn, tiện lợi, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có nguồn vốn cao. Các NHTM có thể thu hồi vốn một cách nhanh chóng, hiệu quả và chi phí thấp nhờ công nghệ ngân hàng hiện đại và khả năng huy động vốn vƣợt trội. Cung cấp cho các nhà đầu tƣ cơ hội kinh doanh. Càng có nhiều tín dụng, các doanh nghiệp càng có nhiều khả năng tăng sản lƣợng và càng có nhiều ngƣời đƣợc hỗ trợ cải thiện điều kiện sống của họ.
Các khoản vay ngân hàng có ảnh hƣởng đáng kể đến sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Thật vậy, doanh nghiệp thƣờng sử dụng các khoản vay ngân hàng để mở rộng.