Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong giai đoạn thực hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong toàn xã hội là rất lớn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ cho các mục tiêu mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật công nghệ, xây dựng nhà xưởng xí nghiệp mới và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp và nguồn vốn phân bổ từ ngân ngân sách nhà nước còn rất hạn chế. Kênh huy động vốn trung dài hạn trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán thời điểm này chưa phát triển mạnh do thị trường còn mới mẻ và tâm lý nhà đầu tư chưa thực sự tin tưởng. Hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) vì thế tiếp tục giữ vai trò là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế.

Chi nhánh Ngân hàng Công thương (NHCT) Thanh Xuân được thành lập và đi vào hoạt động trong bối cảnh đó. Mặc dù quy mô dư nợ ngắn hạn và trung dài hạn của chi nhánh liên tục tăng trưởng, việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn vẫn là nhiệm vụ trọng tâm được Ban Giám đốc ngân hàng đặt ra. Việc gia tăng tỷ trọng và hiệu quả các khoản vay trung dài hạn vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của khách hàng, vừa hạn chế rủi ro kỳ hạn và bảo đảm an toàn hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn và chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Công thương Thanh Xuân giai đoạn 2000 - 2002.
  3. Đề xuất các giải pháp nghiệp vụ và kiến nghị quản lý nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh trong thời gian tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng trung và dài hạn. Phạm vi nghiên cứu về không gian là Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thanh Xuân (địa chỉ tại số 275 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội). Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu hoạt động kinh doanh giai đoạn 2000 - 2002 cùng dữ liệu tổ chức bộ máy cập nhật đến năm 2003.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài xây dựng dựa trên bản chất kinh tế của tín dụng ngân hàng và các quy định pháp lý hiện hành của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tín dụng được định nghĩa là quan hệ kinh tế chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hoặc hiện vật giữa các chủ thể với các điều kiện hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Theo Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, các tổ chức tín dụng được phép cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Căn cứ theo thời hạn tín dụng, hoạt động cho vay được phân chia thành:

  • Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn đến 12 tháng, dùng bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và chi tiêu ngắn hạn.
  • Tín dụng trung hạn: Thời hạn từ 1 năm trở lên đến 5 năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (thông lệ quốc tế có thể lên đến 7 năm), sử dụng mua sắm tài sản cố định, cải tiến thiết bị, mở rộng quy mô dự án vừa và nhỏ.
  • Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 5 năm theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước (quốc tế trên 7 năm), phục vụ xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện vận tải lớn, xây dựng nhà máy mới có chu kỳ khấu hao kéo dài.

Về hình thức cấp tín dụng trung dài hạn, lý thuyết phân định các phương thức: cho vay theo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), cho vay theo dự án đầu tư, tín dụng tuần hoàn và tín dụng thuê mua (cho thuê tài chính).

Đề tài vận dụng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn theo 3 nhóm giác độ:

  • Giác độ an toàn và khả năng thu hồi vốn: Tỷ lệ nợ quá hạn (dư nợ quá hạn / tổng dư nợ), tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi (dư nợ không có khả năng thu hồi / tổng dư nợ quá hạn), phân loại nợ theo khả năng thu hồi (100%, 80%, 60%) và thời gian quá hạn (thông thường từ 90 ngày trở lên).
  • Giác độ tốc độ chu chuyển vốn: Vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn, xác định bằng tỷ số giữa doanh số thu nợ tín dụng trung dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân.
  • Giác độ khả năng sinh lời: Tỷ suất sinh lời từ tín dụng trung và dài hạn trên tổng dư nợ trung và dài hạn.

Khung pháp lý được trích dẫn gồm: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI; Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức hệ thống ngân hàng hai cấp; Pháp lệnh Ngân hàng; Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (quy định trần dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của TCTD); quy định của Ngân hàng Nhà nước cho phép NHTM sử dụng tối đa 20% nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn; quy định giới hạn mức cho vay tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp bảo đảm.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp nghiên cứu thực tiễn tại bàn, bao gồm: phân tích thống kê mô tả, so sánh tương đối và tuyệt đối chuỗi số liệu thời gian (năm 2001 so với năm 2000, năm 2002 so với năm 2001), phân tích cơ cấu tỷ trọng (nội tệ - ngoại tệ, thành phần kinh tế). Nguồn dữ liệu sử dụng là các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo thống kê tín dụng và kho quỹ của Ngân hàng Công thương Thanh Xuân giai đoạn 2000 - 2002.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường

Chương I tập trung làm rõ chức năng và các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại: sử dụng tiền (cho vay, đầu tư), tạo lập phương tiện thanh toán (thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt như séc, ủy nhiệm chi, chuyển khoản, tài khoản điện tử), nhận tiền gửi (tiết kiệm, tiền gửi tổ chức), cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư tài sản cố định và bảo lãnh ngân hàng.

Về vai trò kinh tế, tín dụng trung dài hạn góp phần duy trì liên tục quá trình sản xuất kinh doanh thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn cố định; góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và ổn định giá cả nhờ tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong lưu thông; thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Điểm nổi bật của vay vốn trung dài hạn ngân hàng so với phát hành cổ phiếu, trái phiếu là tính linh hoạt cao, tiết kiệm chi phí phát hành, thủ tục đăng ký chứng khoán và không bị ràng buộc bởi quyền biểu quyết của cổ đông.

Chương này cũng phân tích các yếu tố rủi ro và điều kiện cho vay trung dài hạn: rủi ro kỳ hạn, biến động lãi suất (được khắc phục thông qua lãi suất thả nổi), rủi ro đạo đức, giới hạn hạn mức tín dụng (15% vốn tự có). Các điều kiện bắt buộc gồm năng lực pháp lý, dự án khả thi và tài sản bảo đảm với yêu cầu tuổi thọ tài sản phải lớn hơn thời hạn vay vốn, có tính thanh khoản cao và mức cho vay tối đa bằng 70% giá trị tài sản định giá.

Tác giả phân tích các nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả tín dụng:

  • Môi trường kinh tế vĩ mô và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật (đặc biệt là khung pháp lý cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản và xử lý tài sản thế chấp).
  • Môi trường tự nhiên (dẫn chứng đợt thiên tai lũ lụt năm 1997 - 1998 tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên làm phát sinh các chính sách khoanh nợ, xóa nợ).
  • Nhân tố nội tại ngân hàng: chất lượng thông tin tín dụng (từ Trung tâm Thông tin Tín dụng CIC của NHNN), năng lực thẩm định, cơ cấu tổ chức và mức độ cân đối kỳ hạn nguồn vốn.
  • Nhân tố từ phía khách hàng: tính trung thực, năng lực quản trị tài chính và chất lượng tài sản thế chấp của người vay.

Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Công thương Thanh Xuân

Chương II phản ánh chi tiết quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và các chỉ tiêu hoạt động thực tế của đơn vị khảo sát:

  • Lịch sử hình thành và bộ máy: Tiền thân là Phòng giao dịch Thượng Đình (thuộc NHCT Đống Đa). Ngày 01/04/1997, chi nhánh chính thức thành lập theo Quyết định 17/HĐQT-QĐ ngày 08/03/1997. Đến ngày 01/03/1999, chi nhánh được nâng cấp thành đơn vị thành viên trực thuộc NHCT Việt Nam theo Quyết định 13/HĐBT-NHCT Việt Nam ngày 20/02/1999. Bộ máy quản lý gồm 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc và 7 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kinh doanh, Phòng Kinh doanh đối ngoại, Phòng Kế toán tài chính, Phòng Tiền tệ kho quỹ, Phòng Quản lý tiền gửi dân cư (Phòng Nguồn vốn) và Phòng Kiểm tra. Nhân sự tăng từ 146 cán bộ công nhân viên (năm 1999) lên 169 người (năm 2003), trong đó có 2 thạc sĩ, 86 cử nhân đại học, còn lại là trình độ cao đẳng và trung học.
  • Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động năm 2000 đạt 659.089 triệu đồng; năm 2001 đạt 833.655 triệu đồng (tăng 26,48% tương đương tăng 174.566 triệu đồng); năm 2002 nguồn vốn tiếp tục tăng trưởng 39,98% (tăng 333.285 triệu đồng so với năm 2001). Tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng chủ đạo. Tiền gửi tổ chức kinh tế tăng 4,11% (tăng 8.395 triệu đồng) năm 2001 và tăng 64,68% (tăng 137.444 triệu đồng) năm 2002. Mạng lưới huy động mở rộng lên 13 Quỹ tiết kiệm (QTK), trong đó giai đoạn 2001 - 2002 mở mới các QTK số 78, 79, 80, 81, 82 và hiện đại hóa giao dịch tức thời tại 3 QTK số 31, 44, 47.
  • Quy mô và cơ cấu tín dụng: Dư nợ ngắn hạn năm 2000 là 352.090 triệu đồng, năm 2001 là 511.057 triệu đồng (tăng 44,78%), năm 2002 là 693.090 triệu đồng (tăng 35,62%). Dư nợ trung dài hạn năm 2000 là 77.608 triệu đồng (chiếm 18% tổng dư nợ), năm 2001 là 151.650 triệu đồng (chiếm 22,9% tổng dư nợ, tăng 95,4%), năm 2002 tăng thêm 105.944 triệu đồng (tăng 69,86%). Doanh số cho vay trung dài hạn năm 2000 đạt 49.743 triệu đồng (5,8% tổng doanh số), năm 2001 đạt 74.640 triệu đồng (chiếm 8% tổng doanh số, tăng 150%), năm 2002 đạt 106.808 triệu đồng (chiếm 9,2% tổng doanh số, tăng 143%).
  • Cơ cấu ngoại tệ và khách hàng: Doanh số cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ tăng nhanh từ 12.436 triệu đồng (chiếm 25%) năm 2000 lên 29.856 triệu đồng (chiếm 40%) năm 2001 và đạt 65.153 triệu đồng (chiếm 61%) năm 2002, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị. Tín dụng tập trung chủ yếu vào khối doanh nghiệp nhà nước (các Tổng công ty 90, 91 như Tổng công ty Thương mại và Xây dựng, Công ty Tư vấn Xây dựng Sông Đà, Công ty Quan hệ Quốc tế và Đầu tư Sản xuất; dự án bánh kem xốp và in bao bì của Công ty Bánh kẹo Hải Hà; dự án may xuất khẩu của Công ty May 40; cho vay 46,5 tỷ đồng đối với Công ty Liên doanh TNHH Quốc tế Hoàng Gia để xây dựng quần thể du lịch Hạ Long). Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng thấp do thiếu tài sản bảo đảm và rủi ro báo cáo tài chính.
  • Chất lượng nợ: Nợ khó đòi năm 2001 là 199 triệu đồng, đến năm 2002 giảm xuống còn 0 đồng. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ giảm từ 0,29% (năm 2000) xuống 0,026% (năm 2001) và đạt 0% vào năm 2002. Hệ số vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn cải thiện từ 0,066 vòng (năm 2000) lên 0,1 vòng (năm 2001) và 0,31 vòng (năm 2002).

Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng Công thương Thanh Xuân

Dựa trên các hạn chế về nguồn vốn huy động trung dài hạn thấp và sự phụ thuộc vào hạn mức điều chuyển 20% từ nguồn vốn ngắn hạn, chương III xác định các định hướng và nhóm giải pháp:

  • Đa dạng hóa các công cụ huy động vốn trung và dài hạn thông qua phát hành kỳ phiếu có mục đích, chứng chỉ tiền gửi dài hạn nhằm chủ động cân đối kỳ hạn vốn vay.
  • Tăng cường công tác thẩm định dự án đầu tư, đánh giá dòng tiền hoàn nợ và tính pháp lý, thị trường tiêu thụ của sản phẩm dự án.
  • Áp dụng cơ chế lãi suất thả nổi đối với các khoản vay trung dài hạn để phòng ngừa rủi ro chênh lệch lãi suất huy động và cho vay.
  • Nâng cao năng lực cán bộ tín dụng và phối hợp liên phòng ban trong việc giám sát sử dụng vốn vay sau giải ngân.
  • Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản thế chấp và nâng cao hiệu lực hệ thống thông tin tín dụng CIC.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện các số liệu hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHCT Thanh Xuân giai đoạn 2000 - 2002, thể hiện qua các bảng chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu phân tích Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Tổng nguồn vốn huy động (triệu đồng) 659.089 833.655 Tăng 39,98% so với 2001
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động - 26,48% 39,98%
Dư nợ cho vay ngắn hạn (triệu đồng) 352.090 511.057 693.090
Dư nợ cho vay trung và dài hạn (triệu đồng) 77.608 151.650 Tăng thêm 105.944
Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn / Tổng dư nợ 18,00% 22,90% Tăng trưởng liên tục
Doanh số cho vay trung dài hạn (triệu đồng) 49.743 74.640 106.808
Tỷ trọng cho vay trung dài hạn / Tổng doanh số 5,80% 8,00% 9,20%
Tỷ trọng cho vay bằng ngoại tệ (trung dài hạn) 25,00% 40,00% 61,00%
Tỷ trọng cho vay bằng nội tệ (trung dài hạn) 75,00% 60,00% 39,00%
Nợ khó đòi (triệu đồng) - 199 0
Tỷ lệ nợ quá hạn / Tổng dư nợ 0,29% 0,026% 0,00%
Vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn (vòng) 0,066 0,100 0,310

Các kết quả và đóng góp chính của đề tài:

  • Chứng minh tốc độ tăng trưởng tín dụng trung dài hạn vượt bậc của chi nhánh sau khi tách ra trực thuộc NHCT Việt Nam (doanh số cho vay trung dài hạn năm 2001 tăng 150%, năm 2002 tăng 143% so với năm trước).
  • Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu loại tiền vay, phản ánh nhu cầu ngoại tệ gia tăng nhanh chóng (chiếm 61% năm 2002) nhằm phục vụ các dự án đổi mới công nghệ, nhập khẩu dây chuyền thiết bị.
  • Ghi nhận hiệu quả quản trị rủi ro nợ quá hạn khi chi nhánh xử lý triệt để nợ xấu, đưa nợ khó đòi về 0 đồng và tỷ lệ nợ quá hạn về 0% trong năm 2002.
  • Đề xuất các giải pháp bám sát thực tế hoạt động tại địa bàn quận Thanh Xuân, định hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư trung dài hạn an toàn và hiệu quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát giới hạn tại một chi nhánh ngân hàng cấp cơ sở (NHCT Thanh Xuân) trong giai đoạn sơ khởi của thị trường tài chính (2000 - 2002).
    • Cơ cấu danh mục cho vay trung dài hạn tập trung chủ yếu vào khối doanh nghiệp nhà nước (các Tổng công ty 90, 91), chưa mở rộng mạnh sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh do rào cản về tài sản thế chấp và tính minh bạch tài chính.
    • Nguồn vốn cho vay trung dài hạn còn chịu sự phụ thuộc lớn vào hạn mức cho phép sử dụng tối đa 20% nguồn vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đánh giá mô hình xếp hạng tín nhiệm nội bộ và quy trình thẩm định rủi ro dự án đầu tư theo các chuẩn mực quốc tế.
    • Nghiên cứu các giải pháp cấp tín dụng trung dài hạn phù hợp với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) khi hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm và kiểm toán độc lập được hoàn thiện.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học, Quản trị Ngân hàng tham khảo phương pháp xây dựng báo cáo phân tích hoạt động kinh doanh chi nhánh ngân hàng thương mại.
  • Nội dung giá trị: Các công thức và cách tiếp cận tính toán vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn, phương pháp phân tích cơ cấu tiền tệ (nội tệ - ngoại tệ), cách thức đánh giá nợ quá hạn theo tỷ lệ thu hồi và kinh nghiệm thẩm định các dự án đầu tư thực tế (như dự án du lịch Hạ Long, dây chuyền sản xuất bánh kẹo, may xuất khẩu).

Câu hỏi thường gặp

Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thanh Xuân được thành lập và tách ra trực thuộc NHCT Việt Nam vào thời điểm nào?
Tiền thân của chi nhánh là Phòng giao dịch Thượng Đình. Chi nhánh được chính thức thành lập ngày 01/04/1997 theo Quyết định 17/HĐQT-QĐ ngày 08/03/1997 (trực thuộc NHCT Đống Đa) và được nâng cấp thành đơn vị thành viên trực thuộc NHCT Việt Nam vào ngày 01/03/1999 theo Quyết định 13/HĐBT-NHCT Việt Nam ngày 20/02/1999.

Cơ cấu bộ máy tổ chức và nhân sự của NHCT Thanh Xuân giai đoạn này như thế nào?
Chi nhánh gồm 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc và 7 phòng ban: Tổ chức hành chính, Kinh doanh, Kinh doanh đối ngoại, Kế toán tài chính, Tiền tệ kho quỹ, Quản lý tiền gửi dân cư và Kiểm tra. Nhân sự tăng từ 146 người (năm 1999) lên 169 người (năm 2003), gồm 2 thạc sĩ, 86 đại học, còn lại là cao đẳng và trung học.

Kết quả kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn tại NHCT Thanh Xuân trong giai đoạn 2000 - 2002 đạt được mức nào?
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của chi nhánh giảm từ 0,29% năm 2000 xuống 0,026% năm 2001 (nợ khó đòi là 199 triệu đồng) và đạt mức 0% vào năm 2002 với số dư nợ khó đòi bằng 0 đồng.

Tỷ trọng doanh số cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ thay đổi ra sao trong giai đoạn 2000 - 2002?
Doanh số cho vay bằng ngoại tệ tăng nhanh từ 12.436 triệu đồng (chiếm 25%) năm 2000 lên 29.856 triệu đồng (chiếm 40%) năm 2001 và đạt 65.153 triệu đồng (chiếm 61%) năm 2002, do nhu cầu vốn ngoại tệ nhập khẩu máy móc, công nghệ của doanh nghiệp tăng cao.

Quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được đề cập trong tài liệu là bao nhiêu?
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nêu trong văn bản, các Ngân hàng Thương mại được phép chuyển tối đa 20% trên tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tín dụng trung dài hạn và phản ánh bức tranh hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thanh Xuân giai đoạn 2000 - 2002. Nghiên cứu chỉ ra sự tăng trưởng về quy mô dư nợ trung dài hạn, sự gia tăng tỷ trọng cho vay ngoại tệ phục vụ đổi mới công nghệ và kết quả thu hồi nợ đưa tỷ lệ nợ quá hạn về 0%. Các giải pháp đa dạng hóa nguồn vốn huy động dài hạn và hoàn thiện quy trình thẩm định dự án được đề xuất nhằm bảo đảm tính bền vững và an toàn vốn cho ngân hàng thương mại.