Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Giới thiệu về lý do chọn đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày về tổng quan lý thuyết và tóm tắt các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của ban quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, mô hình được sử dụng, các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 biến, cách đo lường các biến, dữ liệu được sử dụng, cách thu thập và mô tả dữ liệu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm. Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu dựa trên dữ liệu đã thu thập được và thảo luận các kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hạn chế của đề tài. Trình bày các kết luận được rút ra từ kết quả nghiên cứu và nêu lên các hạn chế của luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan lý thuyết Trên lý thuyết, các cổ đông là người chủ sở hữu đích thực của một công ty, phải là người điều hành các hoạt động của công ty. Nhưng trên thực tế, hầu hết cổ đông của các công ty cổ phần rất phân tán và do đó quyền điều hành thực chất lại nằm trong tay ban quản lý cấp cao (Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, trong đó quyền lực tập trung chủ yếu vào Hội đồng quản trị) của công ty.
Đây là những người được các cổ đông uỷ quyền đứng ra điều hành công ty, đem lại lợi ích cho cả hai phía. Đứng trên quan điểm của cổ đông, một sẽ công ty thực hiện tất cả (hoặc chỉ) các dự án có NPV dương, và điều đó sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc các cổ đông của công ty uỷ quyền cho các quản lý cấp cao trên lại gây sự chia tách quyền sở hữu và quyền quản lý một doanh nghiệp. Sự chia tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp làm nảy sinh các mâu thuẫn giữa quyền lợi của các quản lý cấp cao và các cổ đông, những người quản lý vì lợi ích của mình có thể gây phương hại cho lợi ích của các cổ đông, gây thiệt hại cho công ty.
Chẳng hạn, một giám đốc khi xem xét lựa chọn một trong hai công ty để tiến hành tư vấn chiến lược marketing phân phối sản phẩm ra thị trường (đây là một sản phẩm chiến lược có vai trò quan trọng đối với hoạt động của công ty). Công ty A với bề dày kinh nghiệm, hoạt động chuyên nghiệp, trong khi công ty B mới được thành lập kinh nghiệm hoạt động không có, nhưng đây là công ty do người thân của giám đốc công ty thành lập. Đứng trên quan điểm của công ty thì trong tình huống này nên chọn công ty A vì tính quan trọng của sản phẩm, tuy nhiên giám đốc công ty lại chọn công ty B mà không quan tâm đến kết quả của hoạt động này, vì nó mang lại lợi ích cho công ty mà người thân của ông ta làm chủ. Ở một mức độ nào đó, như trong tình huống này, lợi ích của công ty, cổ đông và lợi ích của các quản lý công ty đã mâu thuẫn với nhau.
Mâu thuẫn này được biết đến dưới cái tên "vấn đề đại diện”. Vì vậy, làm cách nào để các cổ đông chắc chắn rằng các nhà quản lý cấp cao không kiếm tiền bất chính từ vốn của chủ sở hữu hoặc theo đuổi mục đích cá nhân? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chi phí đại diện có thể giảm thiểu bằng cách giám sát những nỗ lực và hành động của nhà quản lý và bằng cách can thiệp khi nhà quản lý đi lệch hướng. Sự giám sát có thể ngăn chặn những chi phí đại diện, ví dụ: giám sát như những đặc quyền của các nhà quản lý, giám sát có thể xác định rằng nhà quản lý dành đủ thời gian cho công việc… Nhưng việc giám sát yêu cầu thời gian và tiền bạc. Một số giám sát hầu như luôn đáng giá, nhưng cũng có thể tiêu tốn thêm tiền nhưng không mang lại giá trị từ việc giảm thiểu chi phí đại diện.
Giống như đầu tư, sự giám sát làm giảm lợi nhuận mang lại. Một số chi phí đại diện không thể ngăn chặn ngay cả với sự giám sát chặt chẽ nhất. Giả sử một cổ đông thực hiện giám sát những quyết định đầu tư vốn. Làm cách nào để các cổ đông có thể biết chắc được một ngân sách vốn được phê duyệt bởi những nhà quản lý cấp cao có bao gồm (1): tất cả các cơ hội có NPV dương cho công ty và (2): không có những dự án với NPV âm do việc xây dựng đế chế và đầu tư cố thủ? (xây dựng đế chế khi mà các nhà quản lý đầu tư nhiều hơn để củng cố quyền lực của mình, các nhà quản lý thích điều hành một quy mô kinh doanh lớn hơn; đầu tư cố thủ khi một dự án được đề xuất với những kỹ năng mà chỉ nhà quản lý có).
Nhà quản lý biết rõ về triển vọng của công ty hơn những người bên ngoài. Nếu cổ đông có thể liệt kê tất cả dự án cùng với NPV của dự án đó, thì sẽ không cần đến nhà quản lý nữa. Bên cạnh đó, để giảm thiểu chi phí đại diện hầu hết các công ty lớn hiện nay trên thế giới thường chi trả cho nhà quản lý dựa trên thành quả từ giá chứng khoán của công ty. Sự đãi ngộ này thường được chi trả dưới một trong ba dạng: quyền chọn chứng khoán, chứng khoán hạn chế (chứng khoán mà phải được giữ lại trong nhiều năm) hay cổ phần thành quả (cổ phần được chia khi đạt được mục tiêu thành quả hay mục tiêu khác).
Khi đã nắm giữ cổ phần của công ty trong tay, thì bây giờ những nhà quản lý là các cổ đông có quyền lợi trực tiếp với công ty đối với lợi nhuận hay thua lỗ của công ty. Đồng thời, nếu công ty hoạt động hiệu quả và giá chứng khoán tăng, nhà quản lý có thể có lợi ích từ giá chứng khoán. Có nhiều thuận lợi khi chi trả lương bổng đãi ngộ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 cho nhà quản lý qua giá chứng khoán. Khi làm việc chăm chỉ để tối đa hoá giá trị công ty, nhà quản lý có thể tối đa hoá giá trị của cổ đông và kiếm thêm lương bổng, đãi ngộ cho chính mình.
Điều này đồng nghĩa với nhận định là khi tỷ lệ sở hữu của ban quản lý tăng lên thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên có một câu hỏi được đặt ngược lại, đó là liệu khi số lượng cổ phần sở hữu của các nhà quản lý tăng lên thì liệu hoạt động của công ty có bị ảnh hưởng, khi mà họ điều hành công ty với mục đích phục vụ cho lợi ích của họ mà không đặt lợi ích của công ty lên hàng đầu (mâu thuẫn này được gọi tên là hiệu ứng cố thủ). Một nhà quản lý với một số lượng lớn cổ phần của công ty trong tay thì quyền lực tập trong tay họ rất lớn, và như thế cũng đồng nghĩa với việc loại bỏ họ ra khỏi quyền lực là một nhiệm vụ khó khăn. Họ có thể tùy ý điều hành công ty theo ý muốn của họ mà ít chịu tác động hơn của các thành phần khác trong công ty đồng thời không lo lắng về việc nếu công ty không hoạt động hiệu quả thì họ sẽ mất đi quyền lực này.
Chẳng hạn, nhà quản lý có thể trì hoãn các dự án đầu tư có giá trị nếu như các dự án này làm giảm thu nhập trong ngắn hạn, làm giảm giá trị của công ty, tác động lên giá cổ phiếu (các dự án này có thể có dòng tiền âm trong khoảng thời gian đầu nhưng dương trong thời gian sau). Phần này khái quát sơ lược về các hành vi của ban quản lý với vai trò là một người được ủy quyền của các cổ đông trong hoạt động điều hành công ty. Phần tiếp theo sẽ trình bày các nghiên cứu đã có về việc tìm kiếm mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của ban quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của ban quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của ban quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp luôn là một chủ đề được các nhà kinh tế bàn luận. Trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này.
Tại Mỹ, Morck et al.(1988) sử dụng Tobin’s Q như là một thước đo hiệu suất và tỷ lệ phần trăm cổ phần của các hội đồng quản trị như là một thước đo về quyền sở hữu quản lý, Morck et al. (1988) sử dụng kỹ thuật hồi quy tuyến tính chia cắt (piecewise -cho phép các hệ số hồi quy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trên quyền sở hữu thay đổi ở các mức sở hữu 5% và 25%) để ước tính mối quan hệ giữa các biến này. Kết quả của họ cho thấy mối quan hệ tích cực giữa quyền sở hữu quản lý và Tobin’s Q trong phạm vi quyền sở hữu từ 0% đến 5% và vượt quá mức sở hữu 25%; mặc dù mức độ phản ứng của hiệu suất đối với các thay đổi trong quyền sở hữu quản lý là ít hơn đối với các mức ở trên mức 25%. Họ cũng lưu ý một mối quan hệ tiêu cực trong khoảng 5% đến 25%.
Morck et al. (1988) kết luận rằng các kết quả này phù hợp với quan điểm cho rằng sự hội tụ của các ảnh hưởng lợi ích chiếm ưu thế trong phạm vi 0% đến 5% và trên mức 25%, với hiệu ứng phân kỳ là chiếm ưu thế trong phạm vi quyền sở hữu từ 5% đến 25%. Hiệu quả 0% 25% 50% 100% Tỷ lệ sở hữu Hình 2.1: Mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của ban quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo nghiên cứu của Morck et al.(1988) Trong khi đó, McConnell và Servaes (1995) thực hiện hồi quy Tobin’s Q với quyền sở hữu quản lý. Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa quyền sở hữu quản lý và giá trị của công ty là rất phức tạp, có hình dạng chữ U, vì giá trị của công ty tăng lên đầu tiên và sau đó giảm khi quyền sở hữu trở nên tập trung trong tay nhà quản lý.