phần mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu, Danh mục viết tắt, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo kết quả nghiên cứu của đề tài đƣợc thể hiện trong 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân lực của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tuyển dụng nhân lực tại công ty TNHH sản xuất vật liệu xây dựng Phƣơng Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tuyển dụng nhân lực tại công ty TNHH sản xuất vật liệu xây dựng Phƣơng Nam. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm nhân lực Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh các yếu tố đầu vào cơ bản là vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật thì nhân lực là nguồn lực có vai trò hết sức quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức/doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp. Theo Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Trong phạm vi của tổ chức, nhân lực trong tổ chức chính là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội”. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi ngƣời, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.
Theo Lê Thanh Hà (2012): “Theo khía cạnh cá nhân con ngƣời, nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con ngƣời còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính,…Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con ngƣời” Theo Trần Kim Dung (2005): “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực”. Theo Nguyễn Vân Điềm (2012): “Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu 9 biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách.của từng con ngƣời” Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp” Trong DN, nhân lực là toàn bộ nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó.
Do đó, có thể nói nhân lực của một DN bao gồm tất cả ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó. Nhƣ vậy có rất nhiều quan điểm của các tác giả khác nhau về nhân lực, trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn bởi các lý do sau: -Thứ nhất, nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những con ngƣời làm việc cho tổ chức/doanh nghiệp đó, đƣợc tổ chức/doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả công. -Thứ hai, nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức/DN cần đƣợc đầu tƣ, khai thác và sử dụng có hiệu quả. Khái niệm tuyển dụng nhân lực Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012): “Tuyển dụng nhân lực chính là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của tổ chức và bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các mục tiêu của tổ chức” Theo Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dƣơng: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lƣợng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/ DN”.
10 Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2016): “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm đƣợc những ngƣời phù hợp bổ sung lực lƣợng lao động cần thiết nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu sử dụng lao động của tổ chức”. Nhƣ vậy theo khái niệm này quá trình tuyển dụng đƣợc hoàn thành khi có hoạt động định hƣớng, hƣớng dẫn nhân viên mới hòa nhập trong môi trƣờng của tổ chức. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản trị nhân lực trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm tuyển dụng của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2016) bởi trong khái niệm của Mai Thanh Lan và Ngyễn Thị Thanh Nhàn đã nều đƣợc đầy đủ quy trình các bƣớc của quá trình tuyển dụng gồm cả quá tình tìm kiếm đến hoạt động đánh giá và lựa chọn đƣợc lực lƣợng lao động cần thiết cho doanh nghiệp. Hoạt động tuyển dụng bao gồm hai hoạt động chính là tuyển mổ nhân lực và tuyển chọn nhân lực.
- Về tuyển mộ: Theo Trần Kim Dung (2005): “Tuyển mộ là quá trình thu hút những ngƣời xin việc có trình độ từ lực lƣợng lao động xã hội và lực lƣợng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lƣợng và chất lƣợng lao động để nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của mình” Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2016): “Tuyển mộ nhân lực quá trình tìm kiếm và thu hút ứng viên nhằm có một lực lượng ứng viên phù hợp với yêu cầu tuyển dụng nộp đơn ứng tuyển để doanh nghiệp lựa chọn”. Hoạt động tuyển mộ đƣợc coi là có hiệu quả khi thu hút đƣợc lƣợng ứng viên đông đảo, phong phú cả về số lƣợng và chất lƣợng. Với nguồn ứng 11 viên nhƣ vậy thì công ty sẽ có cơ sở để tuyển chọn đƣợc nhân lực phù hợp với vị trí cần tuyển.
Mục tiêu của tuyển mộ: đảm bảo đủ và đúng số ứng viên cần cho tuyển chọn. - Đủ: theo tỷ lệ sàng lọc ý kiến - Đúng: Mức độ phù hợp của ứng viên với yêu cầu đặt ra từ công việc và tổ chức. Quá trình tuyển mộ ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả và chất lƣợng của quá trình tuyển chọn. Chất lƣợng của quá trí lựa chọn sẽ không đạt đƣợc những yếu cầu mong muốn nếu số lƣợng nộp hồ sơ ít hơn hoặc bằng số nhu cầu cần tuyển chọn.
Nếu doanh nghiệp thu hút đƣợc các nhiều hồ sơ trong quá trình tuyển mộ thì sẽ càng có cơ hội tìm kiếm đƣợc NNL có chất lƣợng cao. Công tác tuyển mộ không chỉ ảnh hƣởng tới việc tuyển chọn mà còn ảnh hƣởng tới các chức năng khác của quản trị nhân lực nhƣ: đánh giá thực hiện công việc, đào tạo và phát triển NNL, chính sách đãi ngộ, các mối quan hệ lao động. -Về tuyển chọn nhân lực Theo Lê Thanh Hà (2007): “Tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm đƣợc những ngƣời phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những ngƣời đã thu hút đƣợc trong quá trình tuyển mộ. Cơ sở của tuyển chọn là các yêu cầu của công việc đã đƣợc đề ra theo bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với ngƣời thực hiện công việc” Theo Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Tuyển chọn nhân lực được hiểu là quá trình đánh giá năng lực của các ứng viên nhằm lựa chọn ứng viên phù hợp với nhu cầu cần tuyển của doanh nghiệp”.
12 “Để có thông tin phục vụ việc đánh giá ứng viên, các nhà tuyển dụng thƣờng thông qua một số hoạt động nhƣ: thu nhận và xử lý hồ sơ, sơ tuyển, thi tuyển (trắc nghiệm kiến thức chuyên mon, trắc nghiệm IQ, trắc nghiệm EQ, thực hành tay nghề,…) phỏng vấn… Tuyển chọn nhân lực gắn liền với việc lựa chọn ứng viên phù hợp nhất (đáp ứng tối ƣu nhất) nhu cầu tuyển dụng đã xác định của doanh nghiệp.” Tuyển chọn giúp các nhà quản trị nhân lực đƣa ra các quyết định tuyển dụng chính xác. Việc tuyển dụng có hiệu quả sẽ giúp công ty phát triển chiến lƣợc kinh doanh vì có nhân lực phù hợp với sự phát triển của tổ chức trong tƣơng lai. Mục tiêu của công tác tuyển chọn là phải tuyển đúng, đủ nhân lực có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu của công việc cần tuyển. Để việc tuyển chọn có kết quả cao thì công ty cần xây dựng quy trình tuyển chọn phù hợp, sử dụng các phƣơng pháp thu thập thông tin chính xác và có cách đánh giá chính xác các thông tin thu thập đƣợc.
Vai trò của tuyển dụng nhân lực đối với doanh nghiệp Tuyển dụng có ý nghĩa quan trọng với DN nếu công tác này tốt sẽ giúp DN có đƣợc đội ngũ lao động có kỹ năng, chuyên môn, kinh nghiệp giúp cho doanh nghiệp phát triển. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, việc tuyển dụng cũng giúp lực lƣợng lao động của công ty đƣợc trẻ hóa và trình độ trung bình của NLĐ cũng đƣợc nâng lên. Một chính sách tuyển dụng đúng đắn đƣợc chuẩn bị chu đáo, tiến hành nghiêm túc theo một quy trình khoa học sẽ đảm bảo cho DN lựa chọn đƣợc những lao động tài giỏi và sẽ góp phần mang lại thành công cho DN. Nếu công tác tuyển dụng không đƣợc tiến hành nghiêm túc sẽ không lấy đƣợc nhân lực có chất lƣợng tốt, phù hợp với tiêu chuẩn thậm chí mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ làm ảnh 13 hƣởng đến sự phát triển cũng nhƣ gây lãng phí cho doanh nghiệp.
Thứ hai, công tác tuyển dụng tốt sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện đƣợc các mục tiêu kinh doanh trong ngắn hạn cũng nhƣ trong dài hạn. Mỗi một thời kỳ kinh doanh khác nhau, doanh nghiệp có thể cần thêm nhân lực để mở rộng quy mô sản xuất, việc tuyển dụng tốt sẽ giúp DN tìm kiếm đƣợc ngƣời đảm nhiệm các công việc có năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thứ ba, một DN có đội ngũ nhân lực có chất lƣợng tốt sẽ tạo ra năng lực cạnh tranh cho DN, giúp DN đứng vững trong môi trƣờng kinh doanh đầy biến động nhƣ hiện nay. Thứ tƣ, tuyển dụng đúng ngƣời, đúng việc sẽ giúp DN giảm chi phí kinh doanh do nhân lực đó làm đúng nhiệm vụ, chức trách, hoàn thành công việc đƣợc giao.
Thứ năm, việc tuyển dụng hiệu quả sẽ giúp cho DN hoàn thành mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Nhƣ vậy, tuyển dụng nhân sự có tầm quan trọng rất lớn đối với DN.