Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ Nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân. Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, những quan điểm thế nào là công chức thì còn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau.
Dưới cách hiểu chung: “Công chức là những công dân được tuyển dụng thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do Ngân sách Nhà nước trả lương”, mỗi nước đều xây dựng cho mình những khái niệm riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của họ. Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ ràng. Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994 xác định: “Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước”. Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính.
Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo Luật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự. Qua ba nền hành chính phát triển trên có thể thấy, mỗi quốc gia đều xác định một phạm vi những người là công chức riêng. Tuy nhiên hầu hết công chức đều 6 Luan van mang một số đặc điểm sau: là công dân nước đó, được bổ nhiệm giữ một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước.
Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện. Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về Quy chế công chức, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức”. Từ đó đến nay chúng ta đã có rất nhiều văn bản đề cập đến công chức, công vụ và gần đây nhất, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008 kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức.
Theo quy định này, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[4;tr2]. Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm quan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nói riêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao, đổi mới toàn diện chất lượng và hiệu quả việc làm của đội ngũ này, vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Khái niệm công chức cấp xã Ngoài cán bộ, công chức cấp Trung ương, tỉnh, huyện còn một bộ phận nữa được gọi là cán bộ, CCCX.
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[4;tr2]. Theo đó ta thấy, CCCX là một phần của đội ngũ công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước. Đặc điểm chung của công chức và CCCX đều là công dân Việt Nam, làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước. Mặt khác, nếu công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập thì CCCX hình thành theo con đường tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc tại UBND các xã, thị trấn.
Khái niệm tuyển dụng Tuyển dụng nhân lực là một hoạt động không thể thiếu trong bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Hoạt động này nhằm bù đắp sự thiếu hụt trong các cơ quan, tổ chức để đáp ứng yêu cầu công việc và mục tiêu phát triển của tổ chức. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tuyển dụng nhân lực: Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân - Th.S Nguyễn Vân Điềm: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ những nguồn khác nhau những nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển” [6;tr116]. Theo Giáo trình Tuyển dụng nhân lực của TS Mai Thanh Lan: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu doanh nghiệp” [5;tr12].
8 Luan van Như vậy, “Tuyển dụng là một quá trình nhằm tìm kiếm, thu hút và lựa chọn ra người tốt nhất cho những vị trí công việc còn trống trong tổ chức”. Khái niệm tuyển dụng công chức và tuyển dụng công chức cấp xã Theo Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước thì: “Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển”[1;tr1]. Ở đây, “tuyển dụng” bao gồm luôn cả giai đoạn tập sự của người được tuyển và bổ nhiệm sau khi tập sự. Quá trình tuyển dụng bao gồm các giai đoạn sau: - Xác định nhu cầu nhân sự mới cần đưa vào trong tổ chức; - Thu hút người lao động tham gia dự tuyển; - Tuyển chọn được những người đáp ứng được yêu cầu do tổ chức đặt ra; - Tập sự cho người mới để họ “hành chính hóa” bản thân họ; - Bổ nhiệm chính thức sau khi tập sự vào danh sách nhân sự của tổ chức.
Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính thì “Tuyển dụng cán bộ, công chức là việc tuyển người vào cơ quan nhà nước sau khi đã đạt kết quả của kỳ thi tuyển”. Cũng theo từ điển này thì các căn cứ của công tác tuyển dụng cán bộ, công chức là: - Nhu cầu công việc; - Vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức cần tuyển dụng; - Chỉ tiêu biên chế được giao; - Các tiêu chuẩn nhân thân tương quan với yêu cầu công vụ được tuyển dụng bao gồm những yêu cầu về phẩm chất đạo đức yêu cầu về trình độ nghiệp vụ (đúng với tiêu chuẩn nghiệp vụ); - Phải thi tuyển và phải trúng tuyển. Theo đó, tuyển dụng CCCX là việc tuyển dụng công chức để làm việc tại UBND cấp xã theo chuyên môn, nghiệp vụ được tuyển, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Vai trò của tuyển dụng công chức 1.
Đối với xã hội Tuyển dụng công chức có vai trò tạo cơ hội việc làm cho người lao động, tăng thêm thu nhập cho người lao động giúp họ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, cũng như văn hóa để họ có thể nuôi sống bản thân, gia đình và góp sức lực cho sự phát triển của xã hội. Ngoài ra, tuyển dụng công chức giúp người lao động có thể lựa chọn được công việc phù hợp với trình độ, chuyên môn của mình, đồng thời thông qua tuyển dụng họ có cơ hội thăng tiến, cơ hội được khẳng định mình ở một vị trí khác cũng như được đánh giá đúng năng lực, trình độ, được bố trí vài một công việc phù hợp với khả năng của họ. Từ đó họ sẽ có những cống hiến, đóng góp nhiều hơn cho tổ chức, xã hội. Đối với tổ chức Tuyển dụng công chức giúp tổ chức bù đắp được sự thiếu hụt nhân lực và những vị trí trống trong cơ quan, tổ chức góp phần vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ, kế hoạch tổ chức đề ra.
Tuyển dụng công chức có hiệu quả là động lực cho những người lao động, viên chức hợp đồng, sinh viên có chí hướng phấn đấu để cống hiến cho quê hương. Tuyển dụng công chức của tổ chức giúp nâng cao tỷ lệ dân cư có việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống của một bộ phận dân cư, góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội và sử dụng các nguồn lực xã hội một cách hữu ích nhất.