mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và phần phụ lục, luận văn được bố cục thành 3 chương. Cụ thể như sau: Luan van 10 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Chƣơng 2: Thực trạng của công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Luan van 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về công chức CC là một khái niệm mang tính lịch sử và phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Tuy nhiên, CC các nước thường có những dấu hiệu nhận biết chung, cụ thể gồm: Là công dân của nước đó; Được tuyển dụng bởi Nhà nước; Làm các công việc mang tính chất thường xuyên trong các cơ quan nhà nước; Được trả lương từ ngân sách Nhà nước; Được điều chỉnh bởi một Luật riêng. Theo Luật CBCC năm 2008: “CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [20, tr. Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định: “CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật…” [4].
Tóm lại, CC là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong tổ chức (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); trong Công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, Luan van 12 quân nhân chuyên nghiệp) và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện Theo Nghị định 37/2014/NĐ-CP ban hành ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định: các CQCM thuộc UBND huyện là các phòng, ban, văn phòng HĐND - UBND có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND, HĐND cấp huyện, quận, thị xã. Như vậy, có thể hiểu CC các CQCM thuộc UBND huyện là những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, bậc, chức danh trong biên chế và làm việc tại các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyện, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định tại Điều 17, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, CQCM thuộc UBND huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng [21].
Các CQCM thuộc UBND là cơ quan tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở. Tổ chức các các CQCM thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hiện nay được Chính phủ quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 bao gồm: Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và ĐT, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Theo Nghị định này, các CQCM thuộc UBND cấp huyện có vị trí và chức năng là CQCM thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. CQCM thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý Luan van 13 về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch CC và công tác của UBND cấp huyện; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này là: Trình UBND cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý được giao; theo dõi thi hành pháp luật. Giúp UBND cấp huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của CQCM theo quy định của pháp luật và theo phân công của UBND cấp huyện. Giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực quản lý của CQCM theo quy định của pháp luật.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực quản lý của CQCM cho CBCC xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ của CQCM cấp huyện. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của UBND cấp huyện và sở quản lý ngành, lĩnh vực. Kiểm tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của UBND cấp huyện.
Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với CC thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật, theo phân công của UBND cấp huyện. Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính của CQCM theo quy định của pháp luật và phân công của UBND cấp huyện. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND cấp huyện giao hoặc theo quy Luan van 14 định của pháp luật [6, Điều 4]. Như vậy, CC hành chính nhà nước là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước, thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm về bồi dưỡng Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Bồi dưỡng” là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [13, tr. Theo tác giả Đặng Bá Lãm, “BD là một thuật ngữ hiện nay trong giáo dục được sử dụng rất nhiều: BD thường xuyên BD chuyên đề, BD nâng cao. Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD CBCC đã nêu rõ: “BD là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”; “BD theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức”; “BD theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao” [5]. UNESCO định nghĩa: BD có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Hiện nay, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ BD. Có người cho rằng BD là đào tạo tiếp thêm, hiểu ngầm là đã được đào tạo rồi nay bổ sung thêm, hoàn thiện thêm một bước. Hoặc BD là hoạt động giáo dục để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
BD có thể coi là một quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ. Trong thực tiễn xã hội, người ta cho rằng: BD là hoạt động trang bị cập nhật, Luan van 15 nâng cao kiến thức, kĩ năng làm việc. Đây là quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được đào tạo trước đó.
Hiện nay, chúng ta đang sử dụng các chế độ BD đó là: 1) BD theo tiêu chuẩn chức danh 2) BD kiến thức, kĩ năng chuyên ngành cho CBCC. Khái niệm về bồi dưỡng công chức Nhận thức được tầm quan trọng của công tác BDCC trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã chủ trương: “Đẩy mạnh BDCC với chương trình, nội dung sát hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ phường. Có chương trình kế hoạch BD lại và BD thường xuyên CC nhà nước” [26, tr.