Tổng quan luận án

Cây mía (Saccharum officinarum L.) giữ vai trò là cây nguyên liệu chủ lực cho ngành công nghiệp sản xuất đường tại Việt Nam. Vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là hai địa bàn sản xuất trọng điểm; trong đó, tỉnh Tây Ninh có khoảng 15.600 ha mía cung cấp nguyên liệu cho ba nhà máy đường Thành Thành Công Tây Ninh, Biên Hòa và Nước Trong với tổng công suất trên 15.000 tấn mía/ngày (TCD), còn tỉnh Khánh Hòa có khoảng 23.180 ha đất trồng mía. Tuy nhiên, diện tích canh tác tại các vùng này suy giảm liên tục dưới tác động của biến đổi khí hậu, khô hạn kéo dài, thiếu nước tưới và đất đai cằn cỗi, dẫn đến năng suất và chất lượng mía ở mức thấp so với mặt bằng chung. Cơ cấu sản xuất phụ thuộc nặng nề vào các giống nhập nội thương phẩm (giống Thái Lan chiếm trên 48%, Đài Loan chiếm hơn 20,4%, giống nội địa chỉ chiếm khoảng 2,1%), trong khi các giống mía này chủ yếu được chọn lọc dựa trên điều kiện bản địa của nước xuất khẩu, chưa qua đánh giá khả năng thích nghi và chống chịu khô hạn tại từng vùng sinh thái cụ thể của Việt Nam. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tiến sĩ nông nghiệp của tác giả Đoàn Thị Hồng Điểm với đề tài "Tuyển chọn giống mía (Saccharum officinarum L.) nhập nội có năng suất cao, thích hợp tại tỉnh Tây Ninh và Khánh Hoà" (chuyên ngành Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, năm 2023) đã được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống trong việc tuyển chọn giống mía năng suất cao, chữ đường tốt và chống chịu khô hạn thông qua tích hợp nông học thực địa và chỉ thị sinh học phân tử.

Luận án xác định mục tiêu tổng quát là tuyển chọn được giống mía nhập nội có năng suất, chất lượng cao và chống chịu hạn, phù hợp với điều kiện canh tác tại hai tỉnh Tây Ninh và Khánh Hòa.

Các mục tiêu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:

  1. Đánh giá đặc điểm nông học, di truyền của tập đoàn 32 giống mía nhập nội làm cơ sở chọn ra các giống mía triển vọng để nghiên cứu phục vụ sản xuất;
  2. Tuyển chọn các giống mía có năng suất cao hơn đối chứng 10-15%, chữ đường > 10%; ít trổ cờ, ít đỗ ngã, kháng sâu, bệnh cho hai vùng canh tác là hai tỉnh Tây Ninh và Khánh Hòa;
  3. Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống mía triển vọng dựa trên sự biểu hiện gen P5CS trong điều kiện khô hạn.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đặc điểm nông học, năng suất, chất lượng và khả năng chịu hạn của tập đoàn 32 giống mía nhập nội, cùng các giống đối chứng và so sánh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian nghiên cứu: Thí nghiệm sơ tuyển và phân tích di truyền tập đoàn giống được triển khai tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Mía đường Thành Thành Công (xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh). Các khảo nghiệm cơ bản được bố trí tại huyện Châu Thành (tỉnh Tây Ninh) và huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa). Thí nghiệm hạn trong chậu và phân tích sinh học phân tử được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường thuộc Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2021.
  • Quy chuẩn áp dụng: Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng dựa trên Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống mía (QCVN 01-131:2013/BNN & PTNT).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến chọn tạo giống mía, đa dạng di truyền và cơ chế chống chịu stress khô hạn:

Về tình hình sản xuất và công tác chọn giống mía quốc tế: Tác giả dẫn số liệu của FAOSTAT (2020) và Tổng cục Thống kê (2023) phản ánh năng suất mía Việt Nam chỉ đạt khoảng 62,20 tấn/ha vào năm 2020, thấp hơn 11,9% so với mức trung bình thế giới và chỉ bằng một nửa so với Peru. Trên thế giới, các quốc gia sản xuất mía hàng đầu đều xây dựng các chương trình giống nội địa quy mô lớn: Brazil với hệ thống giống RB chiếm 68% diện tích canh tác (Gazaffi và ctv, 2016; Rossetto, 2015); Ấn Độ với các giống chín sớm CoS8436, CoS08272, Co0238 (Singh và ctv, 2016a; Rajeswari và ctv, 2016); Trung Quốc phát triển 170 giống kết hợp nhập nội; Thái Lan phát triển các giống chủ lực KK3, LK92-11, K95-84, Suphanburi 7 và U-thong 12 (Machado, 2015; Sukyai và ctv, 2016); Đài Loan với bộ giống ROC chịu hạn và chín sớm (Taiwan Sugarcane Research Institute, 2001); và Cuba với các bộ giống chuyên biệt hóa theo vùng sinh thái (Ismael và Ayala, 2003). Về công nghệ chuyển gen và đột biến, các nghiên cứu của Bower và Birch (1992), Gallo-Meagher và Irvine (1996), Cao Anh Đương (2015), Nguyễn Văn Dự và ctv (2016), Budeguer và ctv (2021) ghi nhận các hướng tiếp cận nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh và khô hạn.

Về công tác nghiên cứu giống mía tại Việt Nam: Tác giả điểm lại giai đoạn 1990 - 2019, cả nước có 68 giống được công nhận sản xuất thử nhưng chỉ có 16 giống (chiếm 23,5%) được công nhận chính thức (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2016; Lê Quang Tuyền, 2019). Các tác giả Cao Anh Đương (2012, 2013a, 2017), Lê Quang Tuyền (2007, 2019), Nguyễn Đức Quang và ctv (2011, 2016, 2017), Đoàn Lệ Thủy và Nguyễn Thị Bạch Mai (2007, 2009a, 2009b, 2012) đã tiến hành khảo nghiệm nhiều tổ hợp giống tại các vùng sinh thái Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, xác định được một số giống tiềm năng như VN84-422, VN85-1427, K88-92, K95-84, KK3 và LK92-11. Nguồn gen mía tại Viện Nghiên cứu Mía đường (SRI) lưu giữ 917 mẫu giống vào năm 2011 (Cao Anh Đương, 2013b).

Về ứng dụng chỉ thị phân tử trong đánh giá đa dạng di truyền mía: Nguyễn Văn Trữ và ctv (2012) sử dụng 20 cặp mồi SSR trên 42 giống mía tại Việt Nam, thu được 85 alen và phát hiện cặp mồi M12 có tính đa hình gắn với hàm lượng đường; Thân Thị Thu Hạnh và ctv (2019) dùng 45 chỉ thị SSR trên 30 giống mía, xác định hệ số tương đồng dao động từ 0,52 đến 0,90.

Về cơ chế khô hạn và tích lũy proline: Tác động của hạn đến sinh trưởng, diện tích lá, đóng khí khổng và suy giảm quang hợp được tổng kết từ Ramesh và Mahadevaswamy (2000), Inman-Bamber và Smith (2005), Basnayake và ctv (2012, 2015), Abbas và ctv (2014), Marcos và ctv (2018), Devi và ctv (2018). Han và Hwang (2003), Kavi Kishor và ctv (2005), Iqbal và ctv (2014) chỉ rõ enzyme chủ chốt trong con đường sinh tổng hợp proline từ glutamate là delta-1-pyrroline-5-carboxylate synthetase (P5CS) và pyrroline-5-carboxylate reductase (P5CR). Radha và ctv (2014), Balestro và ctv (2017), Li và ctv (2018a) chứng minh sự gia tăng mức độ biểu hiện gen P5CS tỷ lệ thuận với khả năng tích lũy proline và mức độ chịu hạn ở mía.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Thiếu các nghiên cứu sàng lọc có hệ thống từ tập đoàn giống mía nhập nội kết hợp đồng thời giữa khảo nghiệm nông học hai vụ (mía tơ và mía gốc I) tại hai vùng sinh thái khó khăn (Tây Ninh và Khánh Hòa), phân tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR, và kiểm chứng cơ chế chịu hạn ở cấp độ phân tử thông qua định lượng mức độ biểu hiện gen P5CS.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh lý thực vật C4, di truyền học cây trồng đa bội và sinh học phân tử:

  • Khung lý thuyết di truyền: Cây mía hiện đại là con lai phức tạp giữa Saccharum officinarum (2n = 80, tích lũy đường cao) và loài hoang dại Saccharum spontaneum (2n = 40 đến 128, chịu ngoại cảnh bất lợi và hàm lượng xơ cao). Bộ gen cây mía mang tính dị bội cao (53 đến 143 nhiễm sắc thể, dung lượng trên 10 Gb), trong đó khoảng 80% nhiễm sắc thể kế thừa từ S. officinarum, 10% từ S. spontaneum và 10% tái tổ hợp (Piperidis và ctv, 2010; D'Hont và ctv, 1996).
  • Khung lý thuyết sinh lý và hóa sinh chịu hạn: Thiếu nước gây ức chế phân chia, kéo dài tế bào, đóng khí khổng và suy giảm quang hợp. Để chống chịu stress mất nước, tế bào thực vật điều hòa thẩm thấu bằng cách tích lũy các chất hòa tan tương thích, tiêu biểu là proline. Quá trình sinh tổng hợp proline bắt đầu từ glutamate chuyển hóa thành glutamate-semialdehyde (GSA) nhờ enzyme P5CS, sau đó tự phát đóng vòng thành P5C và chuyển thành L-proline nhờ P5CR. Sự tăng cường phiên mã gen P5CS là cơ chế phản ứng phòng vệ then chốt nhằm duy trì tính toàn vẹn màng tế bào.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm các hợp phần định tính và định lượng:

  • Phương pháp ly trích và phân tích DNA: Sử dụng phương pháp CTAB để tách chiết DNA tổng số từ lá mía non của 32 giống nhập nội và 2 giống đối chứng (KK3, K94-2-483). Kiểm tra chất lượng và đo mật độ quang học (OD). Sử dụng 14 cặp primer SSR để thực hiện phản ứng PCR (điện di gel agarose 2%, hiệu điện thế 100 V, cường độ dòng điện 400 mA). Tính toán số alen tổng số, số alen đa hình và hệ số thông tin đa hình (PIC).
  • Phương pháp phân tích quan hệ di truyền: Dữ liệu nhị phân (có/không vạch khuếch đại) được xử lý bằng phương pháp UPGMA (Unweighted Pair Group Method with Arithmetic Mean) trên phần mềm NTSYSpc 2.1 để thiết lập cây phân nhóm quan hệ di truyền.
  • Phương pháp khảo nghiệm đồng ruộng:
    • Thí nghiệm sơ tuyển 32 giống mía nhập nội tại Tây Ninh: Bố trí theo phương pháp tuần tự, không lặp lại, đối chứng là KK3 và K94-2-483.
    • Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản 8 giống tiềm năng (FG05-623, FG05-088, FG07-320, FG05-300, FG05-256, VMC96-161, MPT97-004, ECU01): Bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 1 yếu tố, 3 lần lặp lại tại Tây Ninh và Khánh Hòa; gồm 2 giống đối chứng (K95-84, Suphanburi 7) và 2 giống so sánh (CoSi8 của Ấn Độ, U1/U4 của Úc). Theo dõi 2 chu kỳ: vụ mía tơ và vụ mía gốc I.
  • Phương pháp đánh giá hình thái lá và khí khổng: Đánh giá bề mặt lá và đếm mật độ khí khổng của 5 giống mía triển vọng.
  • Phương pháp nghiên cứu biểu hiện gen P5CS: Thí nghiệm chậu gồm 6 nghiệm thức (5 giống triển vọng: FG05-088, FG05-256, FG05-623, FG07-320, VMC96-161 và giống KK3 đối chứng). Gây hạn bằng cách ngừng tưới nước; lấy mẫu lá tại thời điểm 2 tuần và 6 tuần sau ngừng tưới so với đối chứng tưới đủ ẩm. Tách chiết mRNA tổng số, xử lý DNase I, tổng hợp cDNA. Thiết kế mồi cho gen nội chuẩn ACT (Actin-like protein) và gen mục tiêu P5CS. Nhân dòng sản phẩm PCR vào vector pGEM-T Easy, biến nạp vào tế bào khả biến Escherichia coli DH5α, giải trình tự kiểm tra sản phẩm. Xây dựng đường chuẩn định lượng dựa trên nồng độ pha loãng plasmid (10^-3 đến 10^-7) để xác định mức độ biểu hiện tương đối qua phản ứng real-time PCR.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu nông học được xử lý phương sai (ANOVA) và so sánh trung bình nghiệm thức theo kiểm định Ducan qua phần mềm SAS 9.1 hoặc các công cụ phân tích thống kê chuyên ngành.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu khí tượng và lý hóa tính đất đai thu thập tại huyện Châu Thanh (Tây Ninh) và huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa). Vật liệu là tập đoàn 32 giống mía nhập nội được bảo tồn và nhân giống tại Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Mía đường Thành Thành Công cùng các giống chuẩn địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu về cây mía trong và ngoài nước. Tác giả trình bày nguồn gốc phân loại học, các đặc điểm giải phẫu hình thái học (thân, lá, mắt mầm, bộ rễ phân bố đến độ sâu 60 cm), yêu cầu sinh thái (quang hợp C4, nhiệt độ thích hợp 25-26°C, lượng mưa cần thiết 1500-2500 mm/năm, ẩm độ đất các giai đoạn 60-80%, pH đất 5,5-7,5). Chương này phân tích chi tiết thực trạng sản xuất mía đường Việt Nam giai đoạn 2002 - 2020: năng suất bình quân đạt đỉnh năm 2018 với 66,64 tấn/ha, nhưng đến năm 2020 giảm còn 62,20 tấn/ha và sản lượng tụt xuống 11,535 triệu tấn (giảm 26% so với năm trước). Tác giả tổng hợp cơ cấu giống cả nước năm 2016, chỉ ra sự chiếm ưu thế tuyệt đối của giống Thái Lan (KK3, SUP7, Uthong, K84-200) và Đài Loan (ROC16, ROC22), đồng thời phân tích cơ cấu cụ thể tại Tây Ninh và Khánh Hòa niên vụ 2015 - 2016 (giống Suphanburi 7 và K95-84 chiếm tỷ lệ lớn).

Tiếp đó, chương phân tích tiêu chuẩn chọn giống công nghiệp tại Brazil (Rossetto, 2015) và Việt Nam (Viện Nghiên cứu Mía đường, 2014b), đối chiếu các phương pháp chọn giống: tuyển chọn nguồn giống sẵn có/nhập nội, chọn lọc với sự hỗ trợ của chỉ thị phân tử (MAS), gây đột biến thực nghiệm (chiếu xạ Cobalt-60 hoặc tia gamma liều 20-30 Gy), và chuyển gen chịu hạn (NXI-1T, NXI-4T, NXI-6T tại Indonesia). Phần cuối của chương tập trung vào cơ chế sinh lý - hóa sinh chịu hạn ở mía: tổn thất sinh khối tại hai giai đoạn mẫn cảm nhất là đẻ nhánh và vươn lóng; các chỉ tiêu sinh lý đánh giá hạn (độ mở khí khổng, bốc thoát hơi nước ET, chỉ số diệp lục SPAD/SCMR, huỳnh quang diệp lục Fv/Fm, hàm lượng nước tiềm tàng RWC); và con đường sinh tổng hợp, thoái dưỡng của proline gắn liền với sự điều hòa phiên mã của enzyme P5CS dưới điều kiện thiếu nước.

Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn, điều kiện đất đai, thời tiết và quy trình thực hiện của 3 nội dung nghiên cứu lớn thông qua 6 thí nghiệm cụ thể:

  • Nội dung 1: Sơ tuyển và đánh giá đa dạng di truyền tập đoàn 32 giống mía nhập nội bằng chỉ thị phân tử SSR. Gồm Thí nghiệm 1 (sơ tuyển 32 giống mía tại Tây Ninh về tỷ lệ mọc mầm, khả năng đẻ nhánh, mật độ cây hữu hiệu, chiều cao, đường kính thân, khả năng chống chịu sâu đục thân, trổ cờ, đỗ ngã, năng suất và chữ đường CCS so với 2 đối chứng KK3, K94-2-483) và Thí nghiệm 2 (ly trích DNA bằng CTAB, kiểm tra OD, khuếch đại bằng 14 cặp mồi SSR, tính toán PIC và phân nhóm di truyền UPGMA trên NTSYSpc 2.1).
  • Nội dung 2: Khảo nghiệm cơ bản 8 giống mía tiềm năng (FG05-623, FG05-088, FG07-320, FG05-300, FG05-256, VMC96-161, MPT97-004, ECU01) được chọn ra từ sơ tuyển. Gồm Thí nghiệm 3 tại Tây Ninh và Thí nghiệm 4 tại Khánh Hòa, theo bố trí RCBD 1 yếu tố với 3 lần lặp lại, so sánh với 2 giống đối chứng (K95-84, Suphanburi 7) và 2 giống so sánh ngoại nhập (CoSi8 của Ấn Độ, U1/U4 của Úc), theo dõi xuyên suốt vụ mía tơ và vụ mía gốc I.
  • Nội dung 3: Nghiên cứu khả năng chống chịu khô hạn của 5 giống mía triển vọng (FG05-088, FG05-256, FG05-623, FG07-320, VMC96-161 và đối chứng KK3). Gồm Thí nghiệm 5 (đánh giá cấu trúc bề mặt lá, mật độ khí khổng) và Thí nghiệm 6 (nghiên cứu mức độ biểu hiện gen P5CS sau 2 tuần và 6 tuần ngừng tưới bằng phương pháp định lượng PCR đường chuẩn dựa trên vector tái tổ hợp pGEM-T Easy mang đoạn gen mục tiêu trong chủng E. coli DH5α, giải trình tự xác nhận đoạn gen ACT và P5CS).

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận khoa học:

  • Kết quả sơ tuyển 32 giống mía nhập nội tại Tây Ninh: Tác giả ghi nhận các chỉ tiêu sinh trưởng biến động lớn giữa các giống. Về năng suất và phẩm chất, năng suất đường biến thiên từ thấp đến cao, trong đó chọn được 8 giống tiềm năng đạt năng suất đường từ 11,5 đến 16,3 tấn/ha. Phân tích tương quan chỉ ra rằng năng suất đường tương quan thuận rất chặt với năng suất mía hơn là với chữ đường (CCS), và năng suất mía có mối tương quan thuận cao nhất với mật độ cây hữu hiệu.
  • Đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR: Phân tích 14 cặp mồi SSR trên 34 mẫu giống (32 giống nhập nội và 2 giống đối chứng) thu được các dải băng rõ nét, hệ số thông tin đa hình (PIC) trung bình đạt 0,37. Hệ số tương đồng di truyền dao động từ 35% đến 89%. Ở ngưỡng tương đồng di truyền 63%, tập đoàn giống được phân tách thành 5 nhóm di truyền riêng biệt. Tám giống mía được lựa chọn bước đầu phân bố thuộc các nhóm di truyền I, III và V, bảo đảm khoảng cách di truyền phong phú phục vụ lai tạo.
  • Kết quả khảo nghiệm cơ bản tại Tây Ninh: Trong 8 giống khảo nghiệm, các giống ECU01, FG05-088, FG05-623 và MPT97-004 thể hiện năng suất đường tương đương hoặc vượt trội so với giống đối chứng K95-84 ở cả 2 vụ. Nổi bật nhất là giống FG05-623 với năng suất mía và năng suất đường cao nhất ở cả vụ mía tơ (119,6 tấn mía/ha; 12,8 tấn đường/ha) và vụ mía gốc I (82,7 tấn mía/ha; 7,3 tấn đường/ha).
  • Kết quả khảo nghiệm cơ bản tại Khánh Hòa: Điều kiện đất đai và thời tiết khắc nghiệt tại Ninh Hòa cho thấy sự phân hóa rõ về tính chống chịu. Giống FG05-256 tỏ ra thích ứng vượt trội, đạt năng suất mía và năng suất đường trung bình 2 vụ (mía tơ và mía gốc I) lần lượt là 114,0 tấn mía/ha và 12,4 tấn đường/ha, vượt đối chứng K95-84. Đồng thời, giống FG05-256 có khả năng đề kháng sâu đục thân (Phragmataecia castaneae Hubner) khá tốt, ít đổ ngã và chịu hạn tốt ngoài đồng ruộng.
  • Đánh giá khả năng chịu hạn qua biểu hiện gen P5CS: Kết quả định lượng biểu hiện gen bằng real-time PCR dựa trên đường chuẩn plasmid pha loãng cho thấy, sau 2 tuần ngừng tưới nước, mức độ biểu hiện gen P5CS tăng lên rõ rệt ở 4 trong 5 giống mía triển vọng gồm FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và giống đối chứng KK3 so với nghiệm thức tưới đủ nước. Sản phẩm PCR giải trình tự DNA đã khẳng định kích thước và độ tương đồng chính xác với trình tự gen ACT và P5CS.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số nông học và năng suất của hai giống mía nổi bật được tuyển chọn so với đối chứng qua khảo nghiệm cơ bản:

Giống mía Vùng khảo nghiệm nổi trội Năng suất mía vụ tơ (tấn/ha) Năng suất đường vụ tơ (tấn/ha) Năng suất mía vụ gốc I (tấn/ha) Năng suất đường vụ gốc I (tấn/ha) Năng suất mía TB 2 vụ (tấn/ha) Năng suất đường TB 2 vụ (tấn/ha) Phản ứng gen P5CS sau 2 tuần hạn Khả năng chống chịu chính
FG05-623 Tây Ninh 119,6 12,8 82,7 7,3 - - Gia tăng biểu hiện Năng suất sinh khối và đường cao nhất ở cả 2 vụ tại Tây Ninh
FG05-256 Khánh Hòa - - - - 114,0 12,4 Gia tăng biểu hiện Kháng sâu đục thân (P. castaneae), thích ứng khô hạn
K95-84 (Đối chứng) Tây Ninh & Khánh Hòa Thấp hơn FG05-623 Thấp hơn FG05-623 Thấp hơn FG05-623 Thấp hơn FG05-623 Thấp hơn FG05-256 Thấp hơn FG05-256 - Nhiễm sâu đục thân trung bình, năng suất thấp hơn ở Khánh Hòa

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã nêu các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn sản xuất như sau:

Về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án đã xác lập dẫn liệu khoa học về mối tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất: năng suất đường có tương quan chặt chẽ hơn với năng suất mía cây so với chữ đường (CCS), và năng suất mía phụ thuộc lớn nhất vào mật độ cây hữu hiệu trong điều kiện canh tác tại Việt Nam.
  • Đánh giá và xác định được hiệu quả ứng dụng của bộ 14 chỉ thị phân tử SSR trong phân tích đa dạng di truyền mía, với giá trị PIC trung bình đạt 0,37; xác định hệ số tương đồng di truyền của tập đoàn dao động từ 35% đến 89% và phân chia thành 5 nhóm di truyền ở ngưỡng tương đồng 63%.
  • Lần đầu tiên ghi nhận và phân tích sự liên hệ giữa tính chống chịu khô hạn với sự gia tăng mức độ biểu hiện của gen P5CS ở cấp độ phân tử sau 2 tuần xử lý khô hạn ở 4 giống mía (FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và KK3), cung cấp cơ sở dữ liệu phân tử về cơ chế chống chịu stress thiếu nước ở cây mía.

Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Tuyển chọn thành công hai giống mía nhập nội có ưu điểm nổi trội phù hợp cho hai vùng sinh thái canh tác:
    • Giống mía FG05-623: Khuyến cáo phát triển tại tỉnh Tây Ninh nhờ ưu thế năng suất thân cây và năng suất đường vượt trội ở cả vụ mía tơ và vụ mía gốc I.
    • Giống mía FG05-256: Khuyến cáo phát triển tại tỉnh Khánh Hòa nhờ năng suất trung bình 2 vụ đạt 114,0 tấn mía/ha và 12,4 tấn đường/ha, khả năng chống chịu sâu đục thân (Phragmataecia castaneae Hubner) và khả năng thích ứng khô hạn cao.
  • Thiết lập cơ sở dữ liệu chi tiết về đặc điểm hình thái học, đặc tính nông học và thông tin di truyền của tập đoàn 32 giống mía nhập nội, đóng vai trò là nguồn vật liệu khởi đầu và bố mẹ tiềm năng cho các chương trình lai tạo giống mía của Việt Nam trong tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo tự nhận định trong văn bản luận án tại phần giới hạn đề tài:

  • Hạn chế về địa bàn và điều kiện khảo nghiệm: Đề tài chỉ bố trí trong điều kiện tự nhiên tại hai địa bàn đại diện là huyện Châu Thành (tỉnh Tây Ninh) và huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) trong chu kỳ 2016 - 2021, chưa mở rộng ra các tiểu vùng sinh thái khác của miền Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Hạn chế về chỉ tiêu theo dõi ở bước sơ tuyển: Ở giai đoạn sơ tuyển 32 giống mía nhập nội, nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất, chưa thể theo dõi đầy đủ và có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu chất lượng công nghiệp chi tiết cũng như các chỉ tiêu bảo vệ thực vật chuyên sâu đối với tất cả các giống.
  • Hạn chế về đánh giá tính chịu hạn: Việc nghiên cứu tính chống chịu hạn của 5 giống mía triển vọng chủ yếu tập trung định lượng sự biểu hiện gen P5CS trong điều kiện hạn chậu nhân tạo, chưa theo dõi đồng bộ, đầy đủ các chỉ tiêu biến đổi hình thái và chỉ tiêu sinh lý song hành trong cùng thí nghiệm phân tử.

Hướng nghiên cứu tiếp xuất phát từ các hạn chế trên: Mở rộng khảo nghiệm sản xuất trên diện rộng cho hai giống FG05-623 và FG05-256 tại các vùng đất chuyên biệt; tiếp tục theo dõi khả năng lưu gốc qua các vụ mía gốc II, gốc III; và nghiên cứu chuyên sâu về sự tích lũy sinh hóa proline kết hợp với biểu hiện của các họ gen chịu hạn khác dưới các ngưỡng stress ẩm độ khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và quản lý ngành nông nghiệp:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Khoa học Cây trồng, Di truyền và Chọn giống thực vật, Công nghệ Sinh học Nông nghiệp: Luận án cung cấp quy trình hoàn chỉnh kết hợp giữa phương pháp khảo nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn quốc gia (QCVN 01-131:2013/BNN & PTNT) và phương pháp sinh học phân tử hiện đại (chỉ thị SSR, phân tích chùm UPGMA, định lượng phiên mã gen bằng PCR đường chuẩn dựa trên plasmid tái tổ hợp).
  • Đối với các nhà lai tạo giống mía tại các viện nghiên cứu (như Viện Nghiên cứu Mía đường - SRI): Dữ liệu phân nhóm di truyền của 32 giống mía nhập nội là cơ sở dữ liệu chuẩn để lựa chọn các cặp lai khác nhóm di truyền nhằm tối ưu hóa ưu thế lai.
  • Đối với cán bộ kỹ thuật, trung tâm khuyến nông và các công ty, nhà máy mía đường (đặc biệt tại Tây Ninh, Khánh Hòa và các tỉnh lân cận): Báo cáo cung cấp đầy đủ thông số nông học thực tế, khả năng kháng sâu đục thân và đặc tính chịu hạn của các giống FG05-623 và FG05-256, giúp định hướng cơ cấu lại bộ giống vùng nguyên liệu, giảm thiểu rủi ro thiếu nước trong bối cảnh khô hạn ngày càng gia tăng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tuyển chọn và khuyến cáo những giống mía cụ thể nào cho hai tỉnh Tây Ninh và Khánh Hòa? Qua các bước sơ tuyển và khảo nghiệm cơ bản 2 vụ (mía tơ và mía gốc I), luận án tuyển chọn và khuyến cáo đưa vào sản xuất giống FG05-623 cho tỉnh Tây Ninh (đạt năng suất mía 119,6 tấn/ha, năng suất đường 12,8 tấn/ha ở vụ tơ; 82,7 tấn mía/ha và 7,3 tấn đường/ha ở vụ gốc I) và giống FG05-256 cho tỉnh Khánh Hòa (năng suất trung bình 2 vụ đạt 114,0 tấn mía/ha và 12,4 tấn đường/ha, kháng sâu đục thân tốt, thích ứng khô hạn).

2. Đánh giá đa dạng di truyền bằng 14 chỉ thị phân tử SSR trên tập đoàn 32 giống mía nhập nội đem lại kết quả gì? Kết quả phân tích cho thấy giá trị thông tin đa hình (PIC) trung bình của 14 chỉ thị SSR là 0,37. Hệ số tương đồng di truyền giữa các giống dao động trong khoảng từ 35% đến 89%. Ở mức tương đồng 63%, 32 giống nhập nội và 2 giống đối chứng được phân tách thành 5 nhóm di truyền riêng biệt. Tám giống mía được chọn vào khảo nghiệm cơ bản thuộc các nhóm di truyền I, III và V.

3. Mức độ biểu hiện của gen P5CS ở các giống mía triển vọng thay đổi như thế nào dưới điều kiện hạn? Trong thí nghiệm hạn ở chậu, sau 2 tuần ngừng tưới nước, mức độ biểu hiện của gen P5CS (gen mã hóa enzyme xúc tác tổng hợp proline) gia tăng rõ rệt ở 4 giống mía gồm FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và giống đối chứng KK3 so với mẫu được tưới nước đầy đủ. Sản phẩm PCR khuếch đại đã được giải trình tự để xác nhận chính xác các đoạn gen mục tiêu là ACT và P5CS.

4. Mối tương quan giữa năng suất đường với các yếu tố cấu thành năng suất mía được xác định ra sao? Kết quả xử lý số liệu tại Tây Ninh chứng minh năng suất đường có mối tương quan thuận chặt chẽ với năng suất mía cây hơn là với chữ đường (CCS). Đồng thời, năng suất mía cây lại có mối tương quan thuận cao nhất với mật độ cây hữu hiệu. Điều này cho thấy trong công tác tuyển chọn giống mía, việc ưu tiên mật độ cây hữu hiệu cao và khối lượng thân là yếu tố quyết định để nâng cao sản lượng đường/ha.

5. Cơ cấu giống mía thực tế tại Việt Nam cũng như tại Tây Ninh và Khánh Hòa trước thời điểm nghiên cứu có đặc điểm gì? Theo số liệu thống kê trong luận án, cơ cấu giống mía của Việt Nam năm 2016 chủ yếu là giống Thái Lan (chiếm 48,0%) và giống Đài Loan (chiếm 20,4%), trong khi giống nội địa chỉ chiếm 2,1%. Tại Tây Ninh và Khánh Hòa niên vụ 2015 - 2016, các giống nhập nội như Suphanburi 7 (chiếm 32,13%) và K95-84 (chiếm 7,5%) chiếm diện tích lớn, trong khi diện tích các giống do Việt Nam lai tạo (như VN84-4137 tại Tây Ninh) chiếm tỷ lệ rất thấp (5,52%).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Hồng Điểm đã đánh giá toàn diện đặc điểm nông học, năng suất và quan hệ di truyền của tập đoàn 32 giống mía nhập nội thông qua 14 chỉ thị phân tử SSR. Đề tài đã tuyển chọn thành công hai giống mía ưu tú gồm FG05-623 cho vùng mía tỉnh Tây Ninh và FG05-256 cho vùng khô hạn tỉnh Khánh Hòa với năng suất mía và đường vượt đối chứng K95-84. Đồng thời, nghiên cứu đã bước đầu làm sáng tỏ mối liên hệ giữa sự gia tăng biểu hiện gen P5CS với phản ứng chống chịu khô hạn ở cấp độ phân tử của các giống mía triển vọng, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu và lai tạo giống mía tại Việt Nam.