Tư Tưởng Triết Học Của Karl Raimund Popper

Khám phá luận án tiến sĩ về tư tưởng triết học của Karl Raimund Popper, phân tích các khái niệm và ảnh hưởng của ông đến triết học hiện đại.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

CNDVBC & CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tư Tưởng Triết Học Karl Popper Mở Đầu 55 ký tự

Karl Raimund Popper (1902-1994) là một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, người tiên phong của chủ nghĩa hậu thực chứng và người sáng lập chủ nghĩa duy lý phê phán. Triết học của ông rất rộng lớn, bao gồm triết học về khoa học và triết học chính trị-xã hội. Những đóng góp của Popper đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm tước hiệp sĩ do Nữ hoàng Anh Elizabeth II phong tặng năm 1965. Nghiên cứu về tư tưởng triết học của ông không chỉ giúp hiểu sâu sắc về giá trị và hạn chế trong học thuyết của triết gia này mà còn là cơ sở để nắm bắt toàn bộ logic xuyên suốt tư tưởng của các nhà hậu thực chứng. Việc nghiên cứu các trào lưu triết học thế giới sau C. Mác, góp phần nâng cao trình độ lý luận.

1.1. Bối Cảnh Ra Đời Triết Học Karl Popper

Tư tưởng triết học của Karl Popper ra đời trong bối cảnh phương Tây thế kỷ XX đầy biến động. Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ, đặt ra nhiều vấn đề mới cho triết học. Popper đã luận giải các vấn đề của thời đại, đồng thời gợi mở nhiều nội dung mới cho các nhà tư tưởng sau ông tiếp tục nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa quan tâm thỏa đáng đến di sản triết học của Karl Popper do sự khan hiếm về tài liệu tiếng Việt, cũng như do ông nổi tiếng với các công trình phê bình chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác.

1.2. Ý Nghĩa Nghiên Cứu Triết Học Popper Hiện Nay

Nghiên cứu một cách trực diện, dựa trên tinh thần khách quan khoa học đối với những đánh giá của Karl Popper về chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác ở cả hai mặt tán đồng và chưa đồng thuận, sẽ giúp có cái nhìn khách quan hơn về tính hợp lý trong những nhận định của ông về chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác. Từ đó có cái nhìn khách quan hơn về tính hợp lý và bất hợp lý trong những nhận định của ông, cung cấp một niềm tin mãnh liệt hơn về những giá trị bất diệt của triết học Mác. Đồng thời triết học của Karl Popper cũng được nhận diện đầy đủ hơn.

II. Phân Tích Thuyết Falsificationism Của Karl Popper 57 ký tự

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Karl Popperthuyết Falsificationism (khả năng bác bỏ). Ông cho rằng một lý thuyết khoa học chỉ có giá trị khi nó có thể bị kiểm chứng và bác bỏ. Điều này khác với chủ nghĩa thực chứng, vốn nhấn mạnh vào khả năng xác minh. Popper tin rằng sự tiến bộ của khoa học đến từ việc liên tục bác bỏ các lý thuyết sai lầm và đưa ra các giả thuyết mới để kiểm tra. Theo Popper, phương pháp khoa học không bắt đầu bằng quan sát mà bắt đầu bằng các vấn đề và các giả thuyết tạm thời.

2.1. Kiểm Chứng Và Bác Bỏ Yếu Tố Cốt Lõi Khoa Học

Popper cho rằng không thể chứng minh một lý thuyết là đúng tuyệt đối, mà chỉ có thể chứng minh nó là sai. Một lý thuyết càng dễ bị bác bỏ nhưng vẫn đứng vững trước các thử nghiệm thì càng có giá trị. Điều này có nghĩa là một lý thuyết khoa học phải đưa ra những dự đoán cụ thể và có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Nếu thực nghiệm không ủng hộ lý thuyết, thì lý thuyết đó sẽ bị bác bỏ.

2.2. Vai Trò Của Sai Lầm Trong Tiến Bộ Tri Thức

Popper nhấn mạnh rằng sai lầm là một phần không thể thiếu của quá trình tăng trưởng tri thức. Ông cho rằng chúng ta học hỏi từ sai lầm bằng cách nhận ra và sửa chữa chúng. Do đó, việc chấp nhận và công khai sai lầm là điều cần thiết để khoa học có thể tiến bộ. Quá trình phản biệnphê bình đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sai lầm và cải thiện lý thuyết.

2.3. Phê Bình Thuyết Falsificationism Hạn Chế Cần Lưu Ý

Mặc dù có ảnh hưởng lớn, thuyết Falsificationism cũng gặp phải nhiều chỉ trích. Một số nhà triết học cho rằng việc bác bỏ một lý thuyết không phải lúc nào cũng đơn giản như Popper mô tả. Đôi khi, các nhà khoa học có thể bảo vệ lý thuyết của mình bằng cách đưa ra các giả định phụ hoặc thay đổi cách giải thích dữ liệu. Popper và Kuhn có nhiều điểm khác biệt trong quan điểm.

III. Chủ Nghĩa Duy Lý Phê Phán Nền Tảng Triết Học Popper 59 ký tự

Chủ nghĩa duy lý phê phán là một trong những đặc điểm nổi bật trong tư tưởng triết học của Karl Popper. Ông bác bỏ chủ nghĩa duy lý truyền thống, vốn tin rằng lý trí có thể đạt được chân lý tuyệt đối. Thay vào đó, ông cho rằng lý trí nên được sử dụng để phê phán và kiểm tra các lý thuyết và niềm tin của chúng ta. Theo Popper, không có gì là không thể sai lầm, và chúng ta nên luôn sẵn sàng xem xét lại các quan điểm của mình dưới ánh sáng của bằng chứng mới.

3.1. Phản Biện Tính Tuyệt Đối Của Tri Thức

Popper cho rằng không có tri thức nào là hoàn toàn chắc chắn. Mọi tri thức đều mang tính giả thuyết và có thể bị bác bỏ bởi bằng chứng mới. Do đó, chúng ta nên tiếp cận tri thức một cách khiêm tốn và luôn sẵn sàng thay đổi quan điểm của mình khi cần thiết. Khả năng phản biện là vô cùng quan trọng.

3.2. Vai Trò Của Lý Trí Trong Xã Hội Mở

Popper tin rằng lý trí đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội mở. Một xã hội mở là một xã hội mà trong đó các ý tưởng khác nhau có thể cạnh tranh và tranh luận một cách tự do. Trong một xã hội mở, lý trí được sử dụng để giải quyết các vấn đề một cách hòa bình và hợp tác, thay vì bằng bạo lực và áp bức.

IV. Triết Học Chính Trị Popper Xã Hội Mở Và Dân Chủ 58 ký tự

Trong lĩnh vực triết học chính trị, Karl Popper nổi tiếng với tác phẩm Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Ông bảo vệ dân chủtự do cá nhân như là những giá trị cơ bản của một xã hội tốt đẹp. Popper phê phán chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa lịch sử, cho rằng chúng dẫn đến áp bức và bạo lực. Ông đề xuất khái niệm kỹ thuật xã hội từng phần như một phương pháp tiếp cận thận trọng và thực tế để cải thiện xã hội.

4.1. Phê Phán Chủ Nghĩa Lịch Sử Và Toàn Trị

Popper cho rằng chủ nghĩa lịch sử (historicalism) là niềm tin rằng lịch sử tuân theo một quy luật hoặc định mệnh không thể tránh khỏi. Ông tin rằng niềm tin này dẫn đến chủ nghĩa toàn trị, vì nó cho phép các nhà lãnh đạo biện minh cho hành động của họ bằng cách tuyên bố rằng họ đang tuân theo quy luật của lịch sử. Popper phê bình HegelMarx, cho rằng họ là những nhà triết học lịch sử tiêu biểu.

4.2. Kỹ Thuật Xã Hội Từng Phần Giải Pháp Cải Cách

Popper đề xuất kỹ thuật xã hội từng phần (piecemeal social engineering) như một phương pháp tiếp cận thận trọng và thực tế để cải thiện xã hội. Phương pháp này bao gồm việc thực hiện các thay đổi nhỏ và có thể kiểm chứng được, và sau đó đánh giá kết quả trước khi thực hiện các thay đổi lớn hơn. Popper tin rằng phương pháp này ít rủi ro hơn so với các kế hoạch cải cách xã hội toàn diện.

4.3. Trách Nhiệm Công Dân Trong Xã Hội Dân Chủ

Theo Popper, một xã hội dân chủ hoạt động hiệu quả khi công dân ý thức được trách nhiệm của mình. Điều này bao gồm việc tham gia vào các cuộc tranh luận công khai, phê bình chính phủ và bầu cử một cách có trách nhiệm. Dân chủ không chỉ là một thể chế chính trị mà còn là một lối sống đòi hỏi sự tham gia tích cực của công dân.

V. Ảnh Hưởng Và Phê Bình Tư Tưởng Triết Học Karl Popper 59 ký tự

Ảnh hưởng của Popper đối với triết học khoa học và triết học chính trị là rất lớn. Nhiều nhà triết học và khoa học gia đã tiếp thu và phát triển các ý tưởng của ông. Tuy nhiên, tư tưởng triết học của Popper cũng gặp phải nhiều phê bình. Một số nhà phê bình cho rằng thuyết Falsificationism của ông quá đơn giản và không phản ánh đúng thực tế của quá trình nghiên cứu khoa học. Cũng có những ý kiến cho rằng quan điểm chính trị của Popper quá bảo thủ.

5.1. Ảnh Hưởng Của Popper Đến Triết Học Khoa Học

Các nhà khoa học và triết gia đã tiếp thu phương pháp luận và các ý tưởng của Karl Popper. Trong đó nổi bật là Lakatos, Kuhn, và Feyerabend. Dù các nhà khoa học có những điểm khác biệt, nhưng họ đều thừa nhận ảnh hưởng của Popper trong việc định hình quan điểm của họ.

5.2. Phê Bình Quan Điểm Chính Trị Của Karl Popper

Một số nhà phê bình cho rằng quan điểm chính trị của Popper quá bảo thủ và không quan tâm đầy đủ đến các vấn đề bất bình đẳng xã hội. Họ cũng cho rằng ông quá tập trung vào việc bảo vệ tự do cá nhân mà bỏ qua các giá trị khác như công bằng và đoàn kết.

VI. Kết Luận Giá Trị Hạn Chế Triết Học Karl Popper 56 ký tự

Tư tưởng triết học của Karl Popper có những giá trị và hạn chế nhất định. Dù vậy, những đóng góp của ông đối với triết học khoa học và triết học chính trị là không thể phủ nhận. Popper đã đặt ra những câu hỏi quan trọng về bản chất của tri thức, phương pháp khoa học và xã hội tốt đẹp. Việc tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tư tưởng của ông là điều cần thiết để hiểu rõ hơn về thế giới và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

6.1. Giá Trị Vượt Thời Gian Tư Tưởng Popper

Dù đã qua đời, những ý tưởng của Popper vẫn còn giá trị đến ngày nay. Chủ nghĩa duy lý phê phánthuyết Falsificationism tiếp tục là những công cụ hữu ích để đánh giá các lý thuyết và niềm tin. Quan điểm chính trị của Popper về xã hội mởdân chủ vẫn là nguồn cảm hứng cho những người đấu tranh cho tự do và công lý.

6.2. Tương Lai Nghiên Cứu Triết Học Karl Popper

Trong tương lai, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của Karl Popper có thể tập trung vào việc giải quyết những phê bình mà ông đã nhận được và tìm ra những cách ứng dụng các ý tưởng của ông vào các lĩnh vực mới. Nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa Popper và các nhà tư tưởng khác cũng sẽ giúp hiểu rõ hơn về vị trí của ông trong lịch sử triết học.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ tư tưởng triết học của karl raimund popper

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng, 14 tiết.popper 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.popper Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Để nghiên cứu Tư tưởng triết học của Karl Raimund Popper, trong luận án này, tác giả cần phải bắt đầu từ việc tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề để làm rõ, trong lĩnh vực này, các học giả đi trƣớc đã đạt đƣợc những kết quả gì có thể tham khảo vào luận án, những gì vẫn đang là khoảng trống mà tác giả luận án cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung. Nghiên cứu về tƣ tƣởng triết học Karl Raimund Popper là đề tài khá mới, nên chƣa có nhiều công trình và tài liệu để luận án có thể tham khảo. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng khảo sát những công trình trong và ngoài nƣớc có thể hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp cho việc thực hiện luận án ở ba mảng là điều kiện tiền đề cho sự ra đời tƣ tƣởng triết học của Popper, triết học về khoa học và triết học chính trị - xã hội của K.

Những công trình nghiên cứu về điều kiện, tiền đề ra đời tƣ tƣởng triết học của Karl Raimund Popper Mọi tƣ tƣởng triết học đều liên hệ mật thiết với những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của thời đại mà nó nảy sinh và phát triển. Tƣ tƣởng triết học của Karl Popper cũng không ngoại lệ; nó chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của nƣớc Áo nói riêng và xã hội phƣơng Tây hiện đại nói chung giữa thế kỷ XX. Nghiên cứu tƣ tƣởng triết học của K. Popper, các tác giả đều ít nhiều đề cập đến những điều kiện, tiền đề cơ bản dẫn đến sự ra đời tƣ tƣởng của ông.

Những công trình nghiên cứu trong nước: Có rất ít tài liệu liên quan trực tiếp đến nội dung điều kiện, tiền đề ra đời tƣ tƣởng triết học của Karl Raimund Popper bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, chúng tôi có thể tham khảo tƣ liệu trong các nghiên cứu về lịch sử châu Âu nói chung nƣớc Áo nói riêng, từ đó chắt lọc ra nhƣng tƣ liệu hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Tác phẩm Lịch sử triết học phương Tây hiện đại [10] do Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng chủ biên (2005) tuy không phân tích riêng những điều kiện kinh tế - xã hội dẫn tới sự hình thành tƣ tƣởng triết học của K. Popper nhƣng đã (LUAN.popper 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.popper khái lƣợc một cách tổng quan mối quan hệ của các trào lƣu triết học phƣơng Tây hiện đại với sự phát triển của khoa học mà triết học của K.

Popper là một trong số đó. Trong cái nhìn tổng quan đó tác giả luận án có thể thấy đƣợc sự ảnh hƣởng của vật lý học Newton (1642 – 1727), thuyết tiến hóa của C.Darwin (1809 – 1882), thuyết lƣợng tử của A.Einstein (1879 - 1955) và nguyên lý bất định của HeisenBerg (1901 - 1976) đến sự hình thành và phát triển tƣ tƣởng triết học của K. Trong bài viết Lịch sử như là hư cấu - quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử [3] tác giả Phan Tuấn Anh (2013) khi tìm hiểu quan niệm của Popper về mối quan hệ giữa bản chất tri thức của sử học với bản chất tri thức của khoa học tự nhiên đã liệt kê một loạt những phát minh khoa học trong thế kỷ XX làm thay đổi quan niệm truyền thống về tri thức khoa học, mặc dù còn thiếu sự phân tích chi tiết nhƣng đây cũng là những gợi ý cho chúng tôi khi đi tìm hiểu về bối cảnh ra đời tƣ tƣởng triết học của K. Nội dung phần “Những nhân tố quy định diện mạo và những đặc điểm cơ bản của triết học phƣơng Tây hiện đại” trong chƣơng I thuộc tập 3 của bộ sách Lịch sử triết học phương Tây [36] của tác giả Đỗ Minh Hợp (2014) là cơ sở để chúng tôi đi từ bối cảnh chung của xã hội phƣơng Tây tìm ra những nhân tố, những điều kiện quy định sự hình thành tƣ tƣởng triết học của K.

Bên cạnh những tài liệu thuộc lĩnh vực triết học ít ỏi nghiên cứu về nội dung này thì những công trình thuộc lĩnh vực sử học và văn hóa học của thế giới thế kỷ XX cũng góp phần cung cấp cho chúng ta bức tranh toàn cảnh về những biến động kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và khoa học công nghệ dẫn tới sự hình thành tƣ tƣởng triết học của K. Trong đó phải kể đến cuốn sách Lịch sử thế giới hiện đại [66] do Nguyễn Anh Thái (2005) chủ biên đã trình bày những sự kiện nổi bật và đặc trƣng cơ bản của lịch sử thế giới giai đoạn 1917 – 1995 nhƣ sự kiện chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình hình thành, phát triển và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu. Những nội dung trên của cuốn sách đã phác họa toàn cảnh về những biến động chính trị - xã hội có ảnh hƣởng trực tiếp tới sự hình thành tƣ tƣởng triết học của K. Popper, làm cơ sở để luận giải những nội dung cơ bản trong triết học chính trị - xã hội của vị triết gia này.popper 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.popper Những thành tựu văn minh của nhân loại trong thế kỷ XX đƣợc trình bày trong cuốn sách Lịch sử văn minh thế giới [56] do Vũ Dƣơng Ninh (2010) chủ biên, trong đó những bƣớc tiến vƣợt bậc về khoa học công nghệ trong thời kỳ này đƣợc các tác giả tập trung giới thiệu, từ sự ra đời của chiếc máy tính điện tử đầu tiên năm 1946 đến robot đầu tiên đƣợc chế tạo tại Mỹ năm 1961, những đột phá trong công nghệ sinh học về gen, tế báo, enzim cho tới những thành tựu của công cuộc chinh phục vũ trụ đã chứng minh cho nhân loại thấy vai trò to lớn của các phát minh khoa học đối với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.

Qua đó có thể thấy rằng những phát minh khoa học mang tính chất vạch thời đại của thế kỷ XX không chỉ cổ vũ các nhà khoa học tự nhiên hăng say nghiên cứu mà còn đặt ra yêu cầu đối với nhiều bộ môn khoa học khác trong đó có triết học khoa học nhằm tìm ra phƣơng pháp luận phù hợp cho việc nghiên cứu khoa học hiệu quả, đây rất có thể là lí do khiến Popper dành nhiều tâm huyết cho triết học khoa học. Những công trình nghiên cứu ngoài nước: Trong tác phẩm Karl Popper - Những năm hình thành, 1902-1945: Chính trị và Triết học giữa hai cuộc chiến tại Viên (Karl Popper –The Formative Years, 1902-1945: Politics and Philosophy in Vien Interwar) [83] với 591 trang viết Malachi Hacohen (2000) đã phác họa nên một bức chân dung hấp dẫn của nhà triết học này. Để giúp Popper thoát khỏi sự đánh giá là bảo thủ và chống cộng sau chiến tranh, Hacohen đã cố công khôi phục các tác phẩm của ông và đồng thời cho thấy chúng có chứa những thông điệp cần thiết cho nền chính trị và triết học hiện đại. Trong những năm sau chiến tranh, mỗi bƣớc thay đổi trong tƣ tƣởng của Popper đều đƣợc phân tích bởi nhiều ngƣời đi theo ông.

Ngƣợc lại, thời thơ ấu của ông trƣớc năm 1945 đƣợc biết đến tƣơng đối ít. Nhƣng hiện nay ngƣời ta có thể tham khảo nghiên cứu của Malachi Haim Hacohen. Nhà nghiên cứu Anthony O'Hear - Giáo sƣ Triết học tại Đại học Buckinghamshire, Giám đốc Học viện Triết học Hoàng gia và là biên tập viên của tạp chí Triết học- là một trong những ngƣời dành nhiều tâm sức cũng nhƣ có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tƣ tƣởng triết học của K. Cuốn sách Karl Popper: Triết học và các vấn đề (Karl Popper: Philosophy and Problems) [88] (LUAN.popper 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.popper (1995) của ông là một bộ sƣu tập các bài luận của mƣời lăm triết gia nổi bật, một vài ngƣời trong số họ có liên hệ mật thiết với Popper và tác phẩm của ông, cung cấp những đánh giá về sự đóng góp của Popper trong một số lĩnh vực chính: phƣơng pháp luận và triết học khoa học; lý thuyết lƣợng tử; lý thuyết tiến hóa và chính trị.

O‟Hear cho rằng có rất ít nhà triết học trong thế kỷ này có phạm vi ảnh hƣởng rộng hơn Karl Popper cả bên trong và bên ngoài triết học. Năm 2004 nhà nghiên cứu này tiếp tục xuất bản bốn tập sách Karl Popper: Tiểu sử, bối cảnh và đánh giá ban đầu đối với các tác phẩm của Popper, Karl Popper: Triết học khoa học 1, Karl Popper: Triết học khoa học 2, Karl Popper: Chính trị và khoa học xã hội (Karl Popper: Biography, background, and early reactions to Popper's work, Karl Popper: Philosophy of science 1, Karl Popper: Philosophy of science 2, Karl Popper: Politics and social science). Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ, toàn diện về tƣ tƣởng triết học của Popper. Tác giả cuốn sách đánh giá Popper là một trong những nhà tƣ tƣởng triết học nổi bật của thế kỷ 20 - một nhà tƣ tƣởng đột phá, ông đã nhìn thấy bản chất của khoa học thực sự nhƣ là sự sẵn sàng đƣa ra các lý thuyết để thử nghiệm nghiêm ngặt và từ chối chúng khi bị bác bỏ bằng kiểm tra.

O‟Hear khẳng định cuốn sách lớn đầu tiên của Popper vào năm 1935, Logic của việc khám phá khoa học, đã đánh dấu ông là một nhà phân tích khoa học chính và có ảnh hƣởng lớn đến cách mọi ngƣời, kể cả các nhà khoa học lớn, đã suy tƣ về lĩnh vực này. Cho đến nay một trong những công trình trình bày chuyên sâu nhất về quá trình hình thành tƣ tƣởng triết học của K. Popper có lẽ là cuốn sách Karl Raimund Popper [73] của tác giả ngƣời Trung Quốc - Lý Quốc Tú. Cuốn sách đã giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper theo dòng thời gian từ lúc ấu thơ cho đến khi từ trần.

Từ hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ bạn bè đến những biến động về mặt chính trị - xã hội đã tác động đến sự hình thành và phát triển tƣ tƣởng của triết gia này đều đƣợc tác giả Lý Quốc Tú nghiên cứu và phân tích. Thêm vào đó, qua cuốn sách này chúng ta có thể thấy tƣ tƣởng triết học của K. Popper rất đƣợc quan tâm nghiên cứu ở Trung Quốc: “Tƣ tƣởng của Popper cũng đƣợc giới hữu quan Trung Quốc rất chú ý và nghiên cứu. Kể từ khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải (LUAN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ