Tư tưởng triết học của J.P. Sartre trong tác phẩm "Ruồi"

Khám phá tư tưởng triết học của J.P. Sartre qua tác phẩm "Ruổi les Mouches" trong luận văn thạc sĩ USSH. Phân tích sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC J. SARTRE TRONG TÁC PHẨM “RUỒI”

1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – văn hoá cho sự hình thành tư tưởng triết học của J P. Sartre

1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng triết học J.

1.3. Triết học đời sống

1.4. Hiện tượng luận của Husserl

1.5. Tư tưởng triết học hiện sinh của M.

1.6. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của J. Sartre và tác phẩm “Ruồi”

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA J. SARTRE TRONG TÁC PHẨM “RUỒI”

2.1. Tư tưởng bản thể luận của J.

2.2. Tồn tại tự nó và tồn tại cho nó

2.3. Tư tưởng đạo đức học của J.

2.4. Tự do – xuất phát điểm của đạo đức học hiện sinh của J.

2.5. Tiêu chuẩn về Thiện – Ác

2.6. Quan niệm về tha nhân

2.7. Quan niệm hiện sinh về lịch sử và nhân học hiện sinh của J.

2.8. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học J. Sartre trong tác phẩm “Ruồi”

2.9. Kết luận chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng triết học của J

Tư tưởng triết học của J.P. Sartre trong tác phẩm "Ruồi" là một trong những điểm nhấn quan trọng trong triết học hiện sinh. Tác phẩm này không chỉ phản ánh những quan điểm triết học của Sartre mà còn thể hiện sự khủng hoảng của con người trong thế kỷ XX. Sartre đã sử dụng hình ảnh của những con ruồi để biểu trưng cho sự hiện hữu và sự tự do của con người. Tác phẩm này mở ra một cái nhìn mới về bản chất con người, tự do và trách nhiệm.

1.1. J.P. Sartre và bối cảnh lịch sử của tác phẩm Ruồi

J.P. Sartre sống trong thời kỳ đầy biến động của thế giới, với hai cuộc chiến tranh thế giới và sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản. Những yếu tố này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng triết học của ông. Tác phẩm "Ruồi" ra đời trong bối cảnh này, phản ánh những mâu thuẫn và khủng hoảng của con người.

1.2. Ý nghĩa của hình ảnh con ruồi trong tác phẩm

Hình ảnh con ruồi trong tác phẩm không chỉ đơn thuần là một biểu tượng mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự hiện hữu của con người. Con ruồi đại diện cho sự tự do, nhưng cũng là sự giam cầm trong những quy tắc xã hội. Sartre đã khéo léo sử dụng hình ảnh này để thể hiện những mâu thuẫn trong tâm hồn con người.

II. Những thách thức trong tư tưởng triết học của J

Tư tưởng triết học của J.P. Sartre không chỉ đơn thuần là một hệ thống lý thuyết mà còn là một phản ứng trước những thách thức của thời đại. Ông đã đặt ra nhiều câu hỏi về bản chất con người, tự do và trách nhiệm. Những thách thức này không chỉ tồn tại trong lý thuyết mà còn trong thực tiễn cuộc sống.

2.1. Vấn đề tự do và trách nhiệm trong tư tưởng của Sartre

Sartre cho rằng tự do là bản chất của con người, nhưng tự do đi kèm với trách nhiệm. Mỗi hành động đều có hậu quả và con người phải chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của mình. Điều này tạo ra một áp lực lớn cho con người trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.

2.2. Sự vô nghĩa và ý nghĩa trong cuộc sống con người

Sartre đã chỉ ra rằng cuộc sống có thể mang tính vô nghĩa, nhưng con người có khả năng tạo ra ý nghĩa cho chính mình. Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm "Ruồi", nơi nhân vật chính phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn và tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống.

III. Phương pháp tiếp cận tư tưởng triết học của J

Để hiểu rõ hơn về tư tưởng triết học của J.P. Sartre, cần có một phương pháp tiếp cận phù hợp. Phương pháp này không chỉ bao gồm việc phân tích văn bản mà còn cần xem xét bối cảnh lịch sử và xã hội mà ông sống.

3.1. Phân tích văn bản và bối cảnh lịch sử

Phân tích văn bản là một phương pháp quan trọng để hiểu rõ tư tưởng của Sartre. Bên cạnh đó, việc xem xét bối cảnh lịch sử cũng giúp làm sáng tỏ những ảnh hưởng từ xã hội đến tư tưởng của ông.

3.2. So sánh với các triết gia khác

So sánh tư tưởng của Sartre với các triết gia khác như Kierkegaard hay Nietzsche có thể giúp làm nổi bật những điểm khác biệt và tương đồng trong quan điểm về con người và tự do.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tư tưởng triết học J

Tư tưởng triết học của J.P. Sartre không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hiện đại. Những quan điểm của ông về tự do và trách nhiệm có thể giúp con người đối mặt với những thách thức trong cuộc sống.

4.1. Tư tưởng tự do trong xã hội hiện đại

Trong xã hội hiện đại, tư tưởng tự do của Sartre có thể được áp dụng để khuyến khích con người sống có trách nhiệm và tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội đang ngày càng phức tạp.

4.2. Tư tưởng trách nhiệm trong hành động xã hội

Tư tưởng trách nhiệm của Sartre có thể được áp dụng trong các hành động xã hội, khuyến khích con người tham gia vào các hoạt động cộng đồng và đóng góp cho xã hội. Điều này giúp tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn.

V. Kết luận về tư tưởng triết học của J

Tư tưởng triết học của J.P. Sartre trong tác phẩm "Ruồi" không chỉ là một hệ thống lý thuyết mà còn là một phản ánh sâu sắc về cuộc sống con người. Những quan điểm của ông về tự do, trách nhiệm và ý nghĩa cuộc sống vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

5.1. Tầm quan trọng của tư tưởng Sartre trong triết học hiện đại

Tư tưởng của Sartre đã mở ra một hướng đi mới cho triết học hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực triết học hiện sinh. Ông đã đặt con người vào trung tâm của triết học và khuyến khích mỗi cá nhân tìm kiếm ý nghĩa cho chính mình.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu về Sartre

Nghiên cứu về tư tưởng của Sartre vẫn còn nhiều tiềm năng. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác những giá trị và hạn chế trong tư tưởng của ông để áp dụng vào các vấn đề hiện đại.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tư tưởng triết học của j p sartre trong tác phẩm ruổiles mouches

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC J. SARTRE TRONG TÁC PHẨM “RUỒI” Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chỉ ra quy luật cơ bản của đời sống Xã hội là: Mọi quy luật của ý thức xã hội chỉ đƣợc ra đời trên một tồn tại xã hội nhất định và bị quy định bởi chính tồn tại xã hội đó. Chính vì thế những tƣ tƣởng triết học của bất kỳ trƣờng phái nào cũng không ngoài quy luật này. Tồn tại xã hội không phải là cái gì khác hơn là những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và tƣ tƣởng, những yếu tố tạo nên sự hình thành, phát triển của các tƣ tƣởng triết học.

Tƣ tƣởng triết học của J. Sartre cũng không đƣợc ra đời từ hƣ vô mà nó cũng đƣợc hình thành trên cơ sở những học thuyết triết học khác của các bậc tiền bối của ông nhƣ: S.và nhiều trào lƣu triết học chống chủ nghĩa duy lý khác trong thời kỳ phát triển của triết học phƣơng Tây hiện đại. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – văn hoá cho sự hình thành tƣ tƣởng triết học của J P. Sartre Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Sự khủng hoảng của kinh tế - chính trị - xã hội với cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật.

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây bƣớc vào thời kỳ huy hoàng của nó. Cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ - viễn thông đã làm thay đổi toàn bộ nền sản xuất phƣơng Tây. Những thành quả về mặt kinh tế đã gây ảnh hƣởng mạnh mẽ tới chính trị, văn hóa tƣ tƣởng của thời đại. Con ngƣời cơ hồ đƣợc sống trong những lợi ích tiện nghi vật chất, không còn tình trạng đói ăn, thiếu mặc đe doạ thƣờng ngày, cuộc sống đƣợc cải thiện rõ ràng.

Nhƣng, những thành quả này cũng không làm cho con ngƣời bớt khổ mà trái lại càng làm tăng thêm những mâu thuẫn xã hội. Biểu hiện của những mâu thuẫn này là hai cuộc chiến tranh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế giới thứ nhất và thứ hai. Đấu tranh chính trị, đấu tranh văn hóa cũng rầm rộ nổ ra ở Mỹ, Pháp.Cũng trong điều kiện xã hội nhƣ vậy nhiều trào lƣu triết học đã ra đời để chống lại chủ nghĩa duy lý đã lâm vào khủng hoảng nhƣ: Triết học hiện sinh tin lành của S. Kierkegaard, triết học đời sống của Bergson, Nietzsche, chủ nghĩa nhân vị, phân tâm học Freud.

Nhƣ một lời phản kháng mạnh mẽ về tồn tại xã hội đƣơng thời, chủ nghĩa hiện sinh đi vào cuộc sống con ngƣời thành một quy luật tất yếu. Con ngƣời nhận ra tính phi nhân tính của lịch sử khi mà những mâu thuẫn xã hội không thể nào điều hoà đƣợc. Cơ cấu xã hội bị đảo lộn, kinh tế điêu tàn, chính trị trở thành trò ảo thuật của giai cấp tƣ sản. Sự ứng dụng khoa học – kỹ thuật đã làm cho đời sống vật chất đƣợc đáp ứng.

Lao động chân tay, thủ công đã trở thành quá khứ đau thƣơng. Máy móc thay thế vào đó nhƣ là một phép mầu. Tất cả những điều đó bắt buộc con ngƣời phải tƣ duy theo một lộ trình mới và đặt tƣ duy đó lên trên hết thảy. Tƣ duy lý tính nhƣ là một vị Thƣợng đế tạo dựng nên một xã hội công nghiệp và nhanh chóng bảo an cho tồn tại ngƣời hết hiệu lực.

Đây, hầu nhƣ là điều kiện cơ bản của chủ nghĩa lạc quan đang thống trị trở nên vô nghĩa. Và rồi, những giá trị cổ truyền bị nhạt phai, quan hệ xã hội trở nên tan vỡ. Nhƣ vậy, những thay đổi của kinh tế tƣ bản đã làm thay đổi hầu nhƣ toàn bộ mọi mặt của đời sống xã hội. Toàn bộ phƣơng Tây có một diện mạo mới.

Cái diện mạo phi nhân tính, hạn chế mọi mặt đời sống tinh thần con ngƣời vốn yếu đuối và mong manh. Trƣớc những thay đổi này con ngƣời phƣơng Tây suy tƣ về chính mình, cuộc đời mình. Những kinh qua của cuộc đời nghiễm nhiên trở thành mối bận tâm chính đáng nhất của công cuộc tái thiết này. Song, sự phát triển của kỹ thuật – công nghệ ngày càng tỷ lệ nghịch với tinh thần của con ngƣời, những giá trị đạo đức không còn đƣợc coi trọng trƣớc sức mạnh của đồng tiền và quyền lực.

Tin tƣởng vào công năng của khoa học - kỹ thuật, tồn tại ngƣời có thể mất dần đi những khả năng thông hiểu với tha nhân, đánh mất các giá trị thẩm mỹ, thiện, ác …. Đó là toàn bộ những thay đổi và cái 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá phải trả cho lý tính tƣ biện. Những quan hệ xã hội vốn vô cùng phức tạp nay lại trở nên phức tạp hơn, hệ thống chính trị, tổ chức đảng phái, giáo hội tôn giáo có những phƣơng thức hoạt động sát sao tới đại chúng. Để có thể quản lý xã hội các đảng phái, tổc chức chính trị - xã hội, tôn giáo này đã sử dụng bộ máy nhà nƣớc nhƣ một công cụ độc quyền đứng trên mọi giai cấp.

Bộ máy nhà nƣớc này nhân danh nhân dân thực hiện những quyền lực đặc ân để đàn áp lại những lực lƣợng phản kháng. Nhân dân hầu nhƣ là đã phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nuớc. Cùng với chức năng cơ bản của nhà nƣớc là duy trì sự ổn định bình thƣờng cho cá nhân và xã hội thì nay cái mà nhà nƣớc quan tâm hơn cả là tập trung sự đàn áp mạnh mẽ hơn. Các tƣ tƣởng bị thu hẹp trong một bầu không khí u uất và lệ thuộc vào chính trị độc tài để biến hầu hết các triết gia phải quan tâm tới vấn đề chính trị.

Ở triết gia lúc này đều nhấn mạnh tới việc cần thiết phải xây dựng một nhà nƣớc mở rộng và gia tăng sức mạnh. Nhà nƣớc ngày càng có một bộ máy quan lại chuyên nghiệp đƣợc trang bị hiện đại bằng công nghệ. Tạo thành một hệ thống thông tin – tuyên truyền cực mạnh và hậu quả là một làn sóng phong trào sùng bái thần tƣợng ngày càng lên cao. Nhà nƣớc có cảm tƣởng nhƣ là nuốt chọn con ngƣời.

Dân chủ và tự do trở thành một sự lố lăng, vô nghĩa. Khẩu hiệu đặt ra bây giờ là phải phá bỏ những thành trì bao quanh con ngƣời biến con ngƣời thành những bức tƣợng vô tri, mọi luân lý phải đƣợc suy tƣ lại để hợp với thời đại, cần phải thiết lập lại một trật tự mới. Sartre viết Vở kịch „„Ruồi‟‟ trong lúc quân Pháp bị quân đội Đức đánh bại năm 1940, quân Đức tràn sang lãnh thổ Pháp bắt chính phủ Pháp phải ký hiệp định ngừng chiến, chia nƣớc Pháp thành hai miền: miền bắc nằm dƣới sự kiểm soát của chính phủ Đức, miền nam( tự do) do chính phủ Pháp bại trận lúc đó quản lý. Nhƣng đến tháng mƣời một năm 1942 khi quân đội đồng minh đổ bộ lên đất châu Phi, thì quân đội Đức bao vây và xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Pháp, chính phủ Philippe Petain chịu làm bù nhìn cho quân đội ngoại xâm Đức.

Cuộc chính biến này dẫn tới hậu quả vô cùng thảm hại cho nhân dân Pháp: 220 000 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời bị bắt đi trại tập trung, 750 000 ngƣời bị cƣỡng bức làm thợ không công cho nền kỹ nghệ Đức, 10 000 ngƣời bị xử bắn. Tất cả nền kinh tế Pháp bị chi phối, hoàn toàn phục vụ cho chính quyền Đức. Đứng trƣớc hoàn cảnh ấy nƣớc Pháp sống trong một không khí vô cùng sôi sục. Lòng căm thù với thế lực ngoại xâm lên cao.

Phong trào chống Đức diễn ra sôi động với nhiều loại hình khác nhau trong đó có lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng. Điều kiện văn hoá Khoa học – công nghệ là lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Kết tinh trong những sản phẩm này là một hàm lƣợng tri thức thực nghiệm với giá trị thực tiễn và lý luận cao. Nhƣng, bản chất của những sản phẩm trí năng này là các loại thiết bị kỹ thuật và cùng với nó là đội ngũ những trí thức khoa học không ngừng đƣợc tăng lên.

Nhà khoa học miệt mài với những nghiên cứu chuyên sâu của mình, không ngừng cải tiến và phát minh hàng loạt các sản phẩm cũng nhƣ thiết bị mới với một tinh thần bất ngờ của công chúng. Có nhiều ngành, liên ngành mới đã ra đời làm tăng thêm số lƣợng nhà khoa học và phát minh khoa học. Ngƣời ta đã hân hoan chào đón chúng nhƣ những thần tƣợng sáng thế. Quả thật, một kỷ nguyên mới đang hình thành và biến đổi nhanh chóng dƣới sự tác động của khoa học – công nghệ.

Không còn nghi ngờ gì nữa khoa học – công nghệ đã trở nên không thể thiếu ở những con ngƣời miệt mài suy tƣ cô đơn trong thế giới này. Khoa học – công nghệ đã len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có vai trò quan trọng nhất là thúc đẩy nền kinh tế của toàn cầu. Vai trò của kinh tế có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác nhƣ xã hội, chính trị, văn hoá, giáo dục. Mọi sự đảo lộn xã hội xét trên mọi bình diện là do yếu tố kinh tế gây nên.

Vì vậy, nhà lãnh đạo của tất cả các quốc gia luôn quan tâm tới phát triển kinh tế đất nƣớc trên cơ sở đó bảo đảm sự lãnh đạo của mình. Thế giới quan vô thần. Sự thắng thế của khoa học – công nghệ chứng tỏ thế giới quan tôn giáo ngày càng không còn chỗ đứng hay nói đúng hơn nó đã bị hoá thân vào một vật thể. Ngƣời ta chỉ coi những điều thiêng liêng nhất từ trƣớc tới 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nay nhƣ: chúa, thần linh, linh hồn… chỉ nhƣ là những bức tƣợng trơ trơ, hết phép mầu.

Thần linh đã biến mất khỏi thế gian, nó đơn giản chỉ là những tín điều tệ hại cho các con chiên ngoan đạo nhƣng ngu ngốc. Mọi sự tồn tại giờ đây đơn thuần là những cái do con ngƣời lựa chọn và xếp đặt. Ngƣời ta phát hiện ra yếu tố tự do của con ngƣời nhƣ là trung tâm của mọi biến cố đời sống xã hội. Các khoa học nhân văn ra đời đều hƣớng nhãn quan của mình vào con ngƣời.

Coi con ngƣời là một kho tài nguyên vô tận không bao giờ cạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ