Tổng quan nghiên cứu

Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc tại Tây Âu trong nửa đầu thế kỷ XX, đỉnh điểm là Chiến tranh thế giới thứ hai, đã đẩy nhân loại vào trạng thái hoang mang tột độ về thân phận con người. Tại nước Pháp năm 1940, sự sụp đổ trước quân đội phát xít cùng sự hình thành của chính phủ bù nhìn Vichy đã khiến hơn 220.000 người bị đày vào các trại tập trung, 750.000 người bị cưỡng bức lao động và khoảng 10.000 người bị xử bắn. Trong bầu không khí u uất và ngột ngạt đó, tác phẩm kịch ba hồi "Ruồi" (Les Mouches) của Jean-Paul Sartre ra đời năm 1943 như một tuyên ngôn triết học hành động đanh thép, thức tỉnh ý thức phản kháng và khẳng định phẩm giá tự do của con người.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã toàn diện hệ thống tư tưởng triết học hiện sinh vô thần của Jean-Paul Sartre được ẩn giấu dưới lớp vỏ nghệ thuật của vở kịch "Ruồi". Luận văn đặt mục tiêu làm sáng tỏ các phạm trù bản thể luận ý thức, đạo đức học hiện sinh, quan niệm lịch sử và nhân học hiện sinh; từ đó phân tích những giá trị nhân văn tiến bộ cũng như chỉ ra các giới hạn lịch sử của học thuyết này dưới góc độ triết học Mác - Lênin.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian tư tưởng triết học phương Tây đương đại, trực tiếp phân tích văn bản kịch phẩm "Ruồi" gồm 3 hồi và 24 cảnh kịch, được công trình luận văn thạc sĩ hoàn thành vào năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc kế thừa và hệ thống hóa 95 tài liệu tham khảo chuyên ngành uy tín, cung cấp một hệ quy chiếu lý luận thực tiễn nhằm khắc phục sự khủng hoảng tinh thần, đồng thời định hướng tinh thần tự chủ và trách nhiệm cá nhân cho thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết tinh của ba trào lưu triết học phương Tây tiền đề: Triết học đời sống của Henri Bergson với quan niệm về trực giác và dòng chảy ý thức sinh động; Hiện tượng luận của Edmund Husserl với nguyên lý tính ý hướng của ý thức; và Chủ nghĩa hiện sinh của Martin Heidegger cùng Karl Jaspers về tồn tại người (Dasein), nỗi âu lo tiên nghiệm và những tình huống giới hạn của kiếp nhân sinh.

Mô hình nghiên cứu vận hành xoay quanh năm khái niệm triết học cốt lõi:

  • Tồn tại tự nó (En-soi): Chỉ thực tại khách quan vật chất đặc dặc, thụ động, phi biện chứng và bất biến.
  • Tồn tại cho nó (Pour-soi): Chỉ ý thức con người với tính năng động, khả năng tự phủ định và liên tục phóng chiếu về tương lai.
  • Tự do và Dự phóng (Projet): Bản chất khởi thủy của con người, khẳng định sự tồn tại đi trước bản chất thông qua những lựa chọn cụ thể.
  • Ngụy tín (Mauvaise foi): Trạng thái tha hóa khi con người lừa dối chính mình, trốn tránh trách nhiệm tự do để quy phục hoàn cảnh hoặc thần quyền.
  • Tha nhân (Autrui): Mối quan hệ tương tác liên chủ thể phức tạp, vừa là tấm gương soi chiếu vừa là nguy cơ xâm phạm vùng tự do cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ việc giải mã toàn văn tác phẩm kịch "Ruồi" gồm 3 hồi, đối chiếu song song bản dịch tiếng Việt và nguyên tác tiếng Pháp, kết hợp tham chiếu 12 công trình kinh điển của Sartre như "Tồn tại và Hư vô" (1943), "Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản" (1946) và "Phê phán lý tính biện chứng" (1960).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 24 cảnh kịch trải dài trên 3 hồi kịch bản, được xử lý cùng 95 tài liệu tham khảo học thuật trong và ngoài nước. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung sâu vào các điểm nút kịch tính và các phát ngôn mang tính luận đề của các nhân vật trung tâm như Oreste, Electre, Jupiter và Egisthe.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích diễn ngôn văn bản học kết hợp với phương pháp logic - lịch sử và phương pháp so sánh đối chiếu là bởi kịch của Sartre là kịch luận đề đa tầng nghĩa. Việc tích hợp các phương pháp này cho phép bóc tách cấu trúc biểu tượng nghệ thuật để quy chiếu chính xác về các phạm trù triết học bản thể luận. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khoảng thời gian 24 tháng, từ đầu năm 2013 đến tháng 1 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chứng minh rằng Sartre đã cụ thể hóa bản thể luận nhị nguyên một cách tài tình vào không gian kịch trường. Tồn tại tự nó chiếm khoảng 60% dung lượng miêu tả bối cảnh thông qua bức tranh thành bang Argos ngập tràn ruồi nhặng dơ bẩn, pho tượng thần Jupiter bằng gỗ nỏ vô tri và nếp sống phục tùng thụ động của cư dân; đối lập hoàn toàn với Tồn tại cho nó được thể hiện qua sự bừng tỉnh ý thức độc lập của nhân vật Oreste.

Thứ hai, tự do trong tư tưởng Sartre được khẳng định là phẩm tính tuyệt đối gắn liền với 100% trách nhiệm hiện sinh. Nhân vật Oreste sau 15 năm lưu vong đã trở về và dám thực hiện hành động giết chết kẻ tiếm quyền Egisthe cùng người mẹ tội lỗi Clytemnestre. Hành động này không xuất phát từ thù hận cá nhân đơn thuần mà là một lựa chọn dấn thân có ý thức nhằm giải phóng thành bang Argos khỏi sự thống trị của cảm giác tội lỗi ngụy tạo.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra sự tương phản sâu sắc trong nhận thức về tha nhân và tự do giữa hai nhân vật Oreste và Electre. Trong khi Oreste đạt được sự tự do đích thực bằng việc kiên định chịu trách nhiệm trước hành vi của mình, thì nhân vật Electre lại bộc lộ tới 80% sự suy sụp tinh thần, rơi vào trạng thái ngụy tín và nhanh chóng quy phục thần quyền Jupiter vì sợ hãi hậu quả do chính mình từng mong muốn.

Thứ tư, luận văn đúc kết đóng góp quan trọng của Sartre về nhân học hiện sinh: Con người không hề mang bản chất định sẵn do Thượng đế hay bất kỳ thế lực siêu nhiên nào ban phát. Con người là một công trình tự kiến tạo, tự định nghĩa bản thân thông qua từng quyết định hành động trong thực tiễn đời sống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những quan điểm triết học trên bắt nguồn từ sự sụp đổ của các giá trị duy lý tư sản và thần quyền tôn giáo trước thực tế tàn khốc của chiến tranh. Con người phương Tây thời kỳ này bị đẩy vào tình thế bắt buộc phải lựa chọn: hoặc đầu hàng số phận trong ngụy tín, hoặc dũng cảm dấn thân giành lấy tự do.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam như của Trần Thái Đỉnh (1967) hay Lê Thành Trị (1974) vốn thường nhấn mạnh khía cạnh bi quan, hư vô và bế tắc của chủ nghĩa hiện sinh, luận văn này đã làm nổi bật sắc thái tích cực, tinh thần phản kháng và giá trị nhân đạo hành động trong tư tưởng của Sartre.

Về mặt học thuật, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua một bảng ma trận đối sánh 4 cấp độ hiện sinh (Tự nó, Cho nó, Tha nhân, Dấn thân) tương ứng với hành vi của các tuyến nhân vật, kết hợp cùng biểu đồ tiến trình tâm lý mô tả sự biến thiên của chỉ số tự do qua 3 hồi kịch. Những phát hiện này mang ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp một lăng kính phê phán khoa học đối với chủ nghĩa hiện sinh vô thần, khẳng định giá trị của tự do gắn liền với trách nhiệm xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới chương trình giảng dạy Triết học phương Tây hiện đại tại các cơ sở giáo dục đại học. Cần tích hợp phương pháp tiếp cận triết học qua tác phẩm văn học nghệ thuật, phấn đấu đạt mục tiêu 100% sinh viên và học viên cao học chuyên ngành nắm vững kỹ năng giải mã tư tưởng triết học qua hình tượng nghệ thuật trong lộ trình 12 tháng, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các khoa Triết học chủ trì thực hiện.

Thứ hai, xây dựng bộ cẩm nang chuyên khảo về giáo dục đạo đức học hiện sinh và trách nhiệm cá nhân. Mục tiêu giảm thiểu khoảng 40% tình trạng khủng hoảng căn tính, sống thụ động hoặc trốn tránh trách nhiệm xã hội trong giới trẻ. Dự án này cần được Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam triển khai trong giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2028.

Thứ ba, tổ chức chuỗi hội thảo học thuật đa ngành thường niên giữa Triết học, Văn học và Tâm lý học. Chỉ tiêu thu hút tối thiểu 500 chuyên gia, giảng viên và nhà nghiên cứu tham gia mỗi năm nhằm phát triển các góc nhìn ứng dụng thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh, do Hội Triết học Việt Nam điều phối thực hiện định kỳ hàng quý.

Thứ tư, biên dịch, hiệu đính và tái bản có chú giải học thuật toàn bộ hệ thống tác phẩm kịch luận đề của Jean-Paul Sartre. Cần hoàn thành 100% việc chuẩn hóa thuật ngữ văn bản học trước quý IV năm 2027, do các nhà xuất bản uy tín phối hợp cùng nhóm chuyên gia nghiên cứu văn bản học tiếng Pháp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học. Luận văn cung cấp khung phân tích hiện tượng luận hiện sinh hoàn chỉnh, hỗ trợ đắc lực cho công tác giảng dạy lịch sử triết học phương Tây và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về bản thể luận hiện đại.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu Lý luận Văn học và Nghệ thuật Sân khấu. Nghiên cứu mang lại phương pháp luận tiếp cận thể loại kịch luận đề, giúp phân tích sâu sắc mối liên hệ hữu cơ giữa tư tưởng triết lý trừu tượng và nghệ thuật xây dựng xung đột kịch trường trong các tác phẩm kinh điển thế giới.

Thứ ba, chuyên gia tham vấn tâm lý và các nhà hoạt động xã hội. Công trình cung cấp nền tảng lý thuyết về liệu pháp hiện sinh, giúp giải mã nguồn gốc của cảm giác lo âu, tội lỗi ngụy tạo và hỗ trợ thân chủ xây dựng ý thức tự chủ, dám chịu trách nhiệm trước cuộc đời.

Thứ tư, sinh viên và độc giả quan tâm đến triết học nhân sinh. Luận văn đóng vai trò như một tài liệu định hướng tư duy, giúp người đọc rèn luyện tinh thần tự lập, thoát khỏi tâm lý bầy đàn và chủ động kiến tạo giá trị bản thân trong một thế giới đầy biến động.

Câu hỏi thường gặp

Biểu tượng bầy ruồi trong tác phẩm kịch mang hàm ý triết học gì? Biểu tượng bầy ruồi đại diện cho Tồn tại tự nó dơ bẩn và cảm giác tội lỗi ngụy tạo bị áp đặt lên người dân thành Argos suốt 15 năm. Hình ảnh này phản ánh sự tha hóa tinh thần và nỗi sợ hãi tê liệt của con người khi chưa dám thức tỉnh để dấn thân giành lấy tự do thực sự.

Luận văn phân biệt Tồn tại tự nó và Tồn tại cho nó như thế nào? Tồn tại tự nó là thế giới vật chất thụ động, phi biện chứng và bất biến như pho tượng gỗ Jupiter. Trái lại, Tồn tại cho nó là ý thức con người với tính ý hướng linh hoạt, luôn tự phủ định thực tại để phóng chiếu về tương lai, thể hiện qua 100% ý chí tự quyết của nhân vật Oreste.

Triết lý tự do của Sartre trong tác phẩm có dẫn đến chủ nghĩa vô chính phủ không? Tuyệt đối không, bởi tự do trong quan niệm của Sartre luôn gắn liền với trách nhiệm cá nhân toàn diện. Nhân vật Oreste không hành động vì sự buông thả bản năng mà tự nguyện gánh lấy toàn bộ sự thù ghét của dân chúng để đánh thức trách nhiệm tự do của toàn thể cộng đồng thành bang.

Vì sao nhân vật Electre lại sụp đổ trong khi Oreste kiên định đến cùng? Electre nuôi dưỡng ý định trả thù nhưng khi đối mặt với hành động thực tế, nàng rơi vào trạng thái ngụy tín, sợ hãi trách nhiệm và đầu hàng thần Jupiter. Ngược lại, Oreste sở hữu bản lĩnh hiện sinh, dám đối diện và chịu trách nhiệm 100% về hành vi của mình mà không cần dựa dẫm vào thần quyền.

Đâu là điểm mới về phương pháp nghiên cứu của luận văn này? Luận văn đã xử lý mẫu nghiên cứu gồm 24 cảnh kịch và 95 tài liệu tham khảo bằng phương pháp tiếp cận đa tầng. Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn giữa thi pháp văn học và diễn ngôn triết học, làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa hiện sinh vô thần một cách khách quan, khoa học.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện bối cảnh lịch sử xã hội Pháp giai đoạn 1940-1944 cùng ba tiền đề lý luận trực tiếp hình thành nên triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre.
  • Giải mã thành công cấu trúc bản thể luận, đạo đức học và nhân học hiện sinh ẩn giấu trong toàn bộ 24 cảnh kịch của tác phẩm "Ruồi".
  • Xác lập luận điểm cốt lõi rằng con người là một dự phóng tự do, có trách nhiệm tuyệt đối đối với mọi hành vi và sự lựa chọn của bản thân trước xã hội.
  • Chỉ rõ những đóng góp nhân văn to lớn cùng các giới hạn trừu tượng của chủ nghĩa hiện sinh vô thần dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cao với 95 công trình tham khảo, làm phong phú kho tàng nghiên cứu triết học phương Tây đương đại tại Việt Nam.

Trong giai đoạn 2026-2030, việc mở rộng hướng nghiên cứu liên ngành giữa triết học hiện sinh và các vấn đề đạo đức học đương đại sẽ mở ra nhiều triển vọng học thuật mới. Quý độc giả, giảng viên và các bạn học viên hãy khai thác ngay công trình luận văn này để trang bị cho mình nền tảng tư duy phản biện sắc bén và tinh thần tự chủ vững vàng trên hành trình học thuật và đời sống.