mở đầu cho sự hình thành của đế chế phát xít, lò lửa chiến tranh lớn nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Ngay sau khi lên nắm chính quyền, Hitler đã lập tức thủ tiêu chế độ đại nghị ở nước Đức, thiết lập chế độ thống trị quân phiệt, độc tài và sử dụng vũ lực tối đa để tiêu diệt bất cứ lực lượng đối lập nào. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản hình thành năm 1932. Năm 1937, Nhật Bản tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc.
Giới quân phiệt Nhật tích cực chuẩn bị chiếm toàn bộ Trung Quốc, tranh giành quyền lợi của Anh, Pháp, Mĩ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Các thế lực phát xít trên thế giới liên kết kí với nhau thành một khối. Ngày 25 – 11 – 1936, Nhật Bản và Đức kí kết “Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản”. Tháng 11 – 1937, Italia cũng tham gia kí Hiệp ước này.
Trục phát xít Béclin – Tôkyô – Roma hình thành. Chủ nghĩa phát xít còn xuất hiện ở nhiều nước khác như Ba Lan, Bungari, Nam Phi, Hunggari, Rumani.bành trướng sang cả Tây Ban Nha, Pháp, Mĩ, Anh. Họa phát xít và nguy cơ chiến tranh đe dọa loài người. Ngày 3 – 9 – 1939 Anh và Pháp cùng tuyên chiến với Đức.
Chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ. Ngày 10 – 6 – 1940, quân Đức ào ạt tấn công nước Pháp. Ngày 14 – 6 – 1940, Pari được tuyên bố là “thành phố bỏ ngỏ”, quân Đức chiếm được thủ đô nước Pháp tương đối dễ dàng. Ngày 22 – 6 – 1940, Hiệp định 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình chiến được ký kết.
Ba phần năm lãnh thổ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng. Phần còn lại thuộc quyền quản lý của Chính phủ Pháp do Petain đứng đầu với thủ phủ đóng ở Vichy. Việc nước Pháp bị đánh bại, phải đầu hàng phát xít Đức và bị quân Đức chiếm đóng là một biến cố đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, có tác động trực tiếp mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử Việt Nam nằm trong liên bang Đông Dương. Trong thế kỷ này, cũng cần phải nhắc tới sự phát triển của khoa học – kĩ thuật cùng với những thành tựu của nó.
Cùng với nó là sự phát triển của tư văn hóa, tư tưởng của các nước phương Tây tuy đóng góp cho văn minh nhân loại nhưng vẫn không giấu được những ý đồ, ham muốn cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: sự phát minh các vũ khí chiến tranh ngày càng tinh vi, hiện đại với sự hủy diệt hàng loạt, sức chiến đấu cao. Đối với các nước phương Đông, các nước tư bản bắt đầu trực tiếp đe dọa, thực hiện xâm lược. Thời kỳ này, nền kinh tế của các nước phương Đông chủ yếu vẫn dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế hộ gia đình và đơn vị kinh tế cộng đồng công xã nông thôn. Thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm nhưng dù có phát triển thì cũng không tạo ra một bước ngoặt đáng kể nào, nó còn bị cản trở bởi các chính sách nhà nước phong kiến như: “trọng nông, ức thương”, “dĩ nông vi bản”, “bế quan tỏa cảng”.
Cơ cấu xã hội điển hình của các nước phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp điển hình: vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, thợ thủ công, thương nhân, trí thức chủ yếu là các nho sĩ, cao tăng. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự xâm lược của các đế quốc phương Tây đã tàn phá xã hội truyền thống của các nước Phương Đông đồng thời nó cũng tạo ra trong xã hội phương Đông mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới.2 Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX * Bối cảnh chính trị Nửa cuối thế kỷ XIX, nước Pháp tiến nhanh vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, thành công trong việc hình thành một hệ thống thuộc địa lớn thứ hai sau nước Anh. Đối với Việt Nam, thực dân Pháp đã mất một thời gian dài từ 1858 đến 1883 để hoàn thành sự xâm lược Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX, phong trào khởi nghĩa vũ trang từ Nam chí Bắc với cuộc khởi nghĩa cuối cùng của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo bị trong tình thế bao vây, o ép nên đến tháng 12-1897 buộc phải đình chiến lần thứ hai với kẻ thù.
Thực dân Pháp cố tranh thủ thời gian này chuẩn bị mọi điều kiện triệt hạ pháo đài cuối cùng của phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta. Thực dân Pháp đã hoàn thành về căn bản công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, và trong bối cảnh đó có thể bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung một cách quy mô. Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp chú ý tới hai yếu tố chính trị “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”. Thực dân Pháp thành lập liên bang Đông Dương bao gồm có: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia trực thuộc Bộ hải quân và thuộc địa.
Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kỳ. Trong đó Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm chính quyền cùng Lào và Campuchia. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ ở Châu Âu, rồi nhanh chóng lan nhanh ra khắp thế giới, lôi cuốn vào vòng chiến hầu hết các nước đế quốc và thuộc địa. Nước Pháp tham chiến, vì vậy phải huy động tối đa sức người, sức của trong nước và các nước thuộc địa để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh.
Thuộc địa Việt Nam chịu chung số phận đó. Chiến tranh bùng nổ, các nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam một mặt ra sức củng cố và mở rộng chỗ dựa xã hội, mặt khác tăng cường hơn nữa mọi hoạt động đề phòng và đàn áp những cuộc cách mạng có thể xảy ra trong khi chúng đang bận tham chiến, để trên cơ sở đó có điều kiện mọi thủ đoạn bắt người, vét ném vào lò lửa chiến tranh Pháp. Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đời sống kinh tế và xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi. Một số ngành kinh tế mới như ngân hàng, công nghiệp chế biến, cơ khí đã hình thành.
Các đô thị được mở mang, các lực lượng xã hội mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản cũng ra đời và ngày càng phát triển. Về đối ngoại, thời gian cuối chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương chủ trương đòi nới rộng thêm quyền hạn cho Toàn quyền về nội trị và ngoại giao (được tự do giao dịch với các nước khác trên thế giới, nhất là với các nước láng giềng châu Á, không cần thông qua các bộ Thuộc địa như trước). Chính quyền Đông Dương tăng cường hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực: mở các cuộc thương thuyết với chính phủ Trung Hoa để phối hợp đàn áp, tiêu diệt các tổ chức cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Trung Quốc. Tóm lại, những cải cách chính trị của chính quyền thực dân ở Việt Nam trong những năm chiến tranh nhằm ổn định thuộc địa, huy động tiềm năng thuộc địa phục vụ cuộc chiến tranh ở nước Pháp.
Để thực hiện được việc đó, chính quyền thuộc địa đã thực hiện một, số chính sách mua chuộc tầng lớp 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thượng lưu, quan lại bản xứ, xây dựng cơ sở xã hội vững chắc ở Việt Nam. Đồng thời họ cũng cấu kết với các thế lực phản động trong khu vực, đàn áp, cô lập phong trào cách mạng Việt Nam. * Sự thay đổi về cơ cấu xã hội Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác trên quy mô lớn từ đầu thế kỷ XX đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam có những biến chuyển quan trọng. Phương thức bóc lột mới theo lối tư bản chủ nghĩa đã được du nhập vào Việt Nam, bắt đầu xâm nhập các khu vực kinh tế nông, công thương nghiệp.
Đồng thời, phương thức bóc lột cũ theo lối phong kiến cổ truyền cũng được thực dân Pháp cố tình duy trì để mang lại lợi ích cho chúng. Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột đó đã dẫn tới sự hình thành phương thức bóc lột thuộc địa bảo đảm siêu lợi nhuận tối cao cho thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trong bối cảnh đó, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng bắt đầu thay đổi khá nhanh. Nhân dân lao động bị bần cùng hóa, xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị đều có những biến chuyển rõ rệt.
Đối với người Việt Nam, kết cấu xã hội theo tứ dân: sĩ, công, nông, thương dần bị xóa bỏ thay vào đó sự phân chia theo giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng phương Tây: Giai cấp địa chủ: Được thực dân Pháp nâng đỡ, ưu thế kinh tế và chính trị của địa chủ Việt Nam tăng lên. Một số người kinh doanh công thương nghiệp xuất thân từ địa chủ vẫn giữ lấy một phần ruộng đất để phát canh thu tô. Một số ít khác, đề phòng công việc kinh doanh bấp bênh, cũng mua một ít ruộng đất cho phát canh thu tô. Như vậy, ngoài địa chủ Pháp, địa chủ nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường còn có địa chủ kiêm công thương.
Tuy nhiên, giai cấp địa chủ thời kỳ này cũng có sự phân hóa sâu sắc, một bộ phận địa chủ trở thành chỗ dựa vững chắc cho thực dân ngoại bang, ra sức đàn áp, bóc lột nông dân. Thực dân Pháp muốn tạo cho mình một hậu 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuẫn chắc chắn nên có các chính sách ưu đãi đối với địa chủ và phong kiến quan liêu. Các quan lại, hào, lý là lớp người thừa hành mẫn cán giúp thực dân Pháp can thiệp một cách có hiệu quả vào các tổ chức làng, xã vốn xa lạ với thực dân người Pháp. Tầng lớp này đã giúp chính quyền thực dân cai trị chặt chẽ xã hội mà lại tránh tiếp xúc trực tiếp với dân chúng, vốn căm thù thực dân đế quốc.
Thực dân Pháp tiến hành cải lương hương chính nhằm từng bước đưa giai cấp địa chủ mới, sản phẩm của chế độ giáo dục thực dân lên thay thế lớp địa chủ cũ .