CHƯƠNG 1 BÌNH ĐĂNG GIỚI - MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH TRONG TƯ TƯỞNG CỦA HÒ CHÍ MINH VE GIAI PHONG PHY NU’ 1. TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ- CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁU TRÚC khái niệm, công cụ liên quan đến giải phóng phụ nữ và về giải phóng phụ nữ Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, giải phóng nghĩa là làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, rằng buộc [71]. Giải phóng phụ nữ là làm cho người phụ nữ được tự do, được thoát khỏi địa vị nô lệ, thoát khỏi tình trạng bị áp bức và tỉnh trang bat bình đẳng với nam giới về mặt kinh tế - xã hội. Giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt đẻ.
Giái phóng phụ nữ không chỉ là giải phóng thân thế, giải phóng tư duy, mà giải phóng cho họ cái gọi là quyền bình đăng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Do vậy, giải phóng phụ nữ trước hết phải xóa bỏ ách áp bức dân tộc, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, đem lại hạnh phúc, tự do, dân chú cho con người; làm cho người phụ nữ phát huy được đẩy đủ phẩm giá con người của mình.
“Theo chủ nghĩa Mác, trình độ giải phóng phụ nữ là một tiêu chỉ phản ánh trình độ giải phóng xã hội nói chung. Muốn thực sự giải phóng phụ nữ thì phái xóa bỏ nguyên nhân kinh tế đẻ ra mọi hình thức áp bức, bóc lột. Một mặt, sự kết hôn không còn bị lợi ích tư hữu chỉ phối; gia đình được xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa nam vả nữ về quyền và trách nhiệm. Mặt khác, xã " hội tổ chức cho phụ nữ được học hành, lao động và công hiến năng lực, phát triển dịch vụ công cộng để giảm nhẹ các dạng lao động trong nhà, dành thì giờ để nâng cao trình độ văn hóa và phát triển ¡ hỏa nhân cách cho mỗi người.
Ngày nay, giải phóng phụ nữ vẫn là một nhiệm vụ trọng đại, bức thiết có ý nghĩa toản cầu. Bình đẳng giới Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau vẻ thành quả của sự phát triển đó 0] c. Dinh kién giới, phân biệt đối xử về giới ~ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. ~ Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới ~ Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. ~ Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới. ~ Biện pháp thúc đây bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới ~ Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới ~ Bao đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thí pháp luật. ~ Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tô chức, gia đình, cá nhân.
Mục tiêu bình đẳng giới Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam vả nữ trong phát triển kinh tế - xã hội vả phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình [30], 1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tải của Đảng ta, nhà tư tưởng lớn của thời đại; anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Người dành cả cuộc đời và sự nghiệp cho dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm về đường lối cách mạng và sự chuẩn mực vẻ tính cách Việt Nam trong thời đại mới: giải phóng, dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ nhiều nguồn gốc, trong đó có truyền thống văn hóa phương Đông và văn hóa Việt Nam.
Những tư tưởng của Người mang tính nhân đạo cao cả, không chỉ phủ hợp với dân tộc Việt Nam mà còn phù hợp với nhân loại tiền bộ. Một trong những tư tưởng đó là tư tưởng về giải phóng. phụ nữ và bình đẳng nam - nữ. Là một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người phụ nữ dưới chế độ cũ bị rằng buộc khắt khe với bao tập tục lạc hậu làm cho người phụ nữ cực khé va dét nat tối tăm, đặc biệt là phụ nữ không duge hoc.
Tam ly “trong nam khinh nữ” của Nho giáo đã cột chat người phụ nữ vào gia đình. Hiểu và thông cảm sâu sắc với người phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Dưới chế độ phong kiển thực dân phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội phụ nữ bị xem. khinh như nô lệ, trong gia đình họ bị kìm hầm bởi xiêng xích tam tong.
Vi vay cẩn giải phỏng phụ nữ thoát khói xiằng xích trỏi buộc họ, Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân ta chịu một cô hai tròng áp bức, mang trong mình nỗi đau của dân tộc mắt nước. Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã đi qua khắp năm châu, bón bề. Người có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu đời sống phụ nữ khắp nơi, chứng kiến sự phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra ở nhiều quốc gia trên thể giới, Người so sánh đời sống khổ cực của phụ nữ nhiều nước thuộc địa nghẻo, lạc hậu ở phương.
Đông với phụ nữ các nước phương Tây. Người cảng hiểu sâu sắc hơn những. căn nguyên gây nên tình trạng đau khổ, bắt bình đẳng mà phụ nữ phải chịu. Từ tìm hiểu cuộc sống phụ nữ khắp năm châu Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Không chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của thực dân.
Trong các bài viết đăng trên báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Người cùng khổ. Hỗ Chi Minh đã trình bay vé tinh cảnh phụ nữ trên thể giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Người đã dành nguyên một chương (Chương XI) để mô tả về “Mỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ". Người đã nêu sự thật về việc xâm phạm thô bạo các quyển cơ bản của con người, về những áp bức, bóc lột, bắt công, lầm than, tủi nhục ma người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu.
Người nhận định: “Dưới chế độ thực dân phong kiển, nhân dân ta bị áp bức và bóc lội, thì phụ nữ ta bị áp bức và bóc lột nặng nẻ hơn” |1, tr. *Trong xã hội và gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng. một chút quyền lợi gỉ " [31, tr. Hỗ Chí Minh không những mô tả, mả còn phê phán các chính sách phản động của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đối với phụ nữ Việt Nam 14 và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tỉnh trạng ấy, Người cho rằng, nguyên nhân của tỉnh trạng phân biệt đối xử với phụ nữ lả do những quan niệm của chế độ phong kiến lỗi thời để lại và từ bản chất của chế độ chính trị thuộc địa nửa phong kiến mà thực dân Pháp áp đặt đối với nước ta.
Nhận thức đúng nguyên nhân dẫn đến tỉnh trạng áp bức, bóc lột, bất công mả những người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu, với sự xót xa, đồng cảm, tình yêu thương, quý trọng con người, trong hành trình tìm đường cứu nước của mình, Người cũng đã nghiên cứu tìm ra con đường giải phóng phụ nữ Việt Nam. Hỗ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân ~ phong kiến đối với người phụ nữ mà còn động viên, tổ chức cho người phụ nữ tham gia công cuộc giải phỏng dân tộc, cứu nước. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh" được tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc), giữa những năm 20 (thế kỷ XX), Người viết “Ông C.Mác nói rằng: “4i biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nỗi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gai thi biết xã hội tiến bộ như thể nào?”.
Ông Lê-nin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết việc nước, như thể cách mệnh mới gọi là thành công” [36, tr228] Chế độ thực dân đã xúc phạm nhân phẩm của người phụ nữ cực kỳ vô liêm sỉ. Để cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh cho rằng: chỉ có con đường duy nhất là làm cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này muốn giảnh thắng lợi phải có phụ nữ tham gia, cách mạng mới thành công. Mang trong mình chủ nghĩa yêu nước chân chỉnh, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, đề rồi khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người gắn giảnh độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đấu tranh cho tự do, hạnh phúc của con người, Người luôn xác định, để giải phóng con người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng, trước tiên phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, lật đỗ chế độ thuộc địa nửa phong kiến và thiết lập chế độ dân chủ nhân dân.
Sau đó, là tiến hảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp đấu tranh để giải phóng phụ nữ Việt Nam gắn liễn với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phụ nữ Việt Nam chỉ thực sự được giải phóng, được bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc sau khi tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng.