Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng ghi nhận phụ nữ chiếm khoảng 51% dân số toàn thành phố, trong đó có 66% phụ nữ nằm trong độ tuổi lao động và chiếm tới 64% tổng số cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công. Dù tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) giai đoạn 1997 - 2011 đạt mức bình quân ấn tượng 11,17%/năm, vấn đề bất bình đẳng giới trong hệ thống chính trị và quản lý nhà nước tại địa phương vẫn tồn tại nhiều rào cản lớn. Tỷ lệ nữ cán bộ tham gia cấp ủy và giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt chưa tương xứng với quy mô và chất lượng ngày càng cao của lực lượng lao động nữ. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận từ tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, khảo sát toàn diện thực trạng thực hiện bình đẳng giới và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Không gian nghiên cứu của đề tài bao quát 6 quận nội thành và 2 huyện ngoại thành trực thuộc thành phố Đà Nẵng với quy mô 992.849 nhân khẩu. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung phân tích tiến trình biến đổi kinh tế - xã hội và công tác cán bộ nữ từ năm 1997 đến năm 2014. Nghiên cứu hướng đến việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thành chỉ tiêu cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt từ 25% trở lên và nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% đến 40% theo định hướng phát triển bền vững của thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về giải phóng con người, trong đó khẳng định trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo tiêu chuẩn cho trình độ giải phóng xã hội. Khung lý thuyết trọng tâm của luận văn là tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ với ba trụ cột cốt lõi: giải phóng về chính trị, giải phóng về kinh tế - xã hội và giải phóng tâm lý con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa". Tư tưởng này chỉ rõ sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn chặt với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bắt đầu từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930 với mục tiêu nam nữ bình quyền.

Nghiên cứu tích hợp khung khổ pháp lý hiện hành gồm Luật Bình đẳng giới năm 2006, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư. Hệ thống khái niệm công cụ vận dụng trong luận văn bao gồm: bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ, định kiến giới và phân biệt đối xử về giới. Mô hình phân tích tập trung làm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị với mức độ thụ hưởng quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, lao động, giáo dục và hôn nhân gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2012, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Nội vụ và Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố cập nhật đến năm 2014. Tổng thể nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn thành phố với quy mô 992.849 nhân khẩu, trong đó có 760.565 nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên phân bố tại 45 phường và 11 xã. Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện chọn lọc thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp mẫu định mức đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ tại các cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể cấp thành phố, quận, huyện.

Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh định lượng và phương pháp logic - lịch sử. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp lượng hóa khách quan các biến động về cơ cấu cán bộ nữ trong tương quan với tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,17%/năm của đô thị loại 1. Timeline nghiên cứu được thiết lập xuyên suốt 17 năm, từ thời điểm Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương năm 1997 đến năm 2014, tạo cơ sở dữ liệu lịch sử vững chắc cho các đánh giá thực chứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phụ nữ Đà Nẵng giữ vai trò trụ cột trong sự phát triển kinh tế của địa phương. Lực lượng nữ chiếm 51% dân số toàn thành phố và 66% người trong độ tuổi lao động. Đội ngũ lao động nữ đóng góp trực tiếp vào tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,17%/năm, giúp nâng thu nhập bình quân đầu người từ 4,69 triệu đồng năm 1997 lên 23,62 triệu đồng năm 2011, tương đương mức tăng trưởng gấp 5,04 lần.

Thứ hai, phụ nữ chiếm tỷ trọng áp đảo trong lực lượng lao động công vụ và các ngành dịch vụ công cộng. Tỷ lệ nữ cán bộ, công chức, viên chức chiếm 64% tổng biên chế toàn thành phố. Trong đó, ngành giáo dục - đào tạo có tỷ lệ nữ lên tới 71%, ngành y tế đạt 67% lực lượng lao động, đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm an sinh xã hội và chăm sóc nguồn nhân lực.

Thứ ba, sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý và cơ quan dân cử chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu 25% cấp ủy và 35% đến 40% đại biểu Hội đồng nhân dân do Nghị quyết số 11-NQ/TW đề ra, thậm chí có xu hướng giảm ở một số vị trí chủ chốt tại cấp quận, huyện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên xuất phát từ ảnh hưởng dai dẳng của hệ tư tưởng Nho giáo với quan niệm trọng nam khinh nữ tồn tại qua hàng nghìn năm lịch sử. Phụ nữ còn chịu rào cản kép khi vừa phải gánh vác trách nhiệm chuyên môn, vừa đảm đương phần lớn công việc nội trợ gia đình. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ nữ còn tồn tại tâm lý tự ti, an phận thủ thường, chưa chủ động rèn luyện ý chí tự cường để vươn lên. Kết quả này phản ánh sự tương đồng với các công trình nghiên cứu về thực thi bình đẳng giới của Giáo sư Lê Thi năm 2011 và đánh giá chính sách của Tiến sĩ Võ Thị Mai năm 2013.

Trong luận văn, các dữ liệu thực trạng được hệ thống hóa trực quan thông qua Biểu đồ cơ cấu GDP theo ngành của Đà Nẵng, Biểu đồ so sánh thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng cao gấp 1,5 lần mức bình quân cả nước năm 2011, và Bảng thống kê chi tiết tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân, cấp ủy các cấp giai đoạn 1997 - 2014. Việc mô hình hóa qua các bảng và biểu đồ giúp làm nổi bật mâu thuẫn giữa tốc độ hiện đại hóa kinh tế đô thị và tốc độ chuyển biến định kiến giới trong hệ thống chính trị.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức quán triệt định kỳ các chuyên đề về giải phóng phụ nữ cho 100% cán bộ, công chức tại 6 quận và 2 huyện trong giai đoạn 2015 - 2017, nhằm xóa bỏ triệt để định kiến giới trong công tác quy hoạch nhân sự.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình quy hoạch, đào tạo và đề bạt cán bộ nữ lãnh đạo. Ban Tổ chức Thành ủy và Sở Nội vụ cần áp dụng quy định bắt buộc tỷ lệ cán bộ nữ trong diện quy hoạch lãnh đạo, quản lý các cấp phải đạt từ 30% trở lên; bảo đảm đạt chỉ tiêu tối thiểu 25% nữ tham gia cấp ủy Đảng và 35% nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và dịch vụ công hỗ trợ gia đình. Ủy ban nhân dân thành phố cần phân bổ ngân sách xây dựng 100% hệ thống nhà trẻ, trường mầm non đạt chuẩn tại các khu công nghiệp và khu đô thị mới đến năm 2020, qua đó giảm tải ít nhất 50% thời gian lao động việc nhà cho phụ nữ, tạo điều kiện để nữ giới tham gia học tập và công tác xã hội.

Thứ tư, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của chính bản thân người phụ nữ. Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng lãnh đạo, hỗ trợ nghề nghiệp cho trên 80% hội viên trong độ tuổi lao động giai đoạn 2015 - 2020, giúp chị em chủ động vượt qua tâm lý tự ti để khẳng định năng lực chuyên môn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước gồm Ban Tổ chức Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Nội vụ và Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Đà Nẵng. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược cán bộ nữ, tối ưu hóa chính sách quy hoạch nhằm đạt mục tiêu 25% nữ cấp ủy và 35% nữ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Chính trị học và Quản lý công. Tài liệu cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh về tư tưởng Hồ Chí Minh và phương pháp phân tích thực tiễn giới tại một đô thị trực thuộc Trung ương.

Nhóm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nữ tại các cơ quan hành chính sự nghiệp, nơi phụ nữ chiếm tới 64% tổng số nhân sự. Luận văn là cẩm nang định hướng tư tưởng, giúp cán bộ nữ nhận thức rõ quyền lợi, nghĩa vụ và phương pháp tự bồi dưỡng để thăng tiến nghề nghiệp.

Nhóm các tổ chức phát triển, tổ chức phi chính phủ và hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và an sinh xã hội. Công trình cung cấp chuỗi số liệu kinh tế - xã hội đáng tin cậy giai đoạn 1997 - 2014 phục vụ việc thiết kế và đánh giá các dự án nâng cao năng lực cho phụ nữ tại khu vực miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ bao gồm những nội dung cốt lõi nào? Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định giải phóng phụ nữ gồm ba nội dung lớn: giải phóng về chính trị, giải phóng về kinh tế - xã hội và giải phóng tâm lý con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

Lực lượng lao động nữ đóng vai trò như thế nào trong cơ cấu cán bộ tại Đà Nẵng? Phụ nữ chiếm 64% tổng số cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố Đà Nẵng. Trong đó, lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo tại ngành giáo dục - đào tạo với 71% và ngành y tế với 67%, thể hiện vai trò nòng cốt trong quản lý và thực thi công vụ.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo tại Đà Nẵng còn thấp là gì? Nguyên nhân chủ yếu do tư tưởng trọng nam khinh nữ từ thời phong kiến còn ăn sâu trong nhận thức xã hội. Thêm vào đó, việc phân công lao động gia đình chưa hợp lý và tâm lý tự ti, an phận của một bộ phận cán bộ nữ đã tạo ra rào cản lớn cho sự phát triển nghề nghiệp.

Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra các chỉ tiêu định lượng nào cho cán bộ nữ đến năm 2020? Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2020: cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% đến 40%; các cơ quan có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên nhất thiết phải có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng có tác động ra sao đến việc thực hiện bình đẳng giới? Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,17%/năm giai đoạn 1997 - 2011 giúp thu nhập đầu người tăng gấp 5,04 lần. Mức tăng trưởng này tạo nguồn lực xây dựng hạ tầng đồng bộ với 100% hộ dân có điện và hơn 83% dùng nước sạch, giải phóng đáng kể sức lao động cho phụ nữ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ như một điều kiện tất yếu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
  • Phản ánh trung thực thực trạng giới tại Đà Nẵng, nơi phụ nữ chiếm 51% dân số và 64% cán bộ công chức nhưng vẫn chịu nhiều rào cản khi tiếp cận các vị trí lãnh đạo cấp cao.
  • Phân tích sâu sắc sự mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị 11,17%/năm với tiến độ thu hẹp khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về đổi mới nhận thức, chuẩn hóa quy hoạch cán bộ, hoàn thiện an sinh xã hội và khơi dậy ý chí tự lực của nữ giới.
  • Xác định lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2015 - 2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu 25% cán bộ nữ cấp ủy và 35% đến 40% nữ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho công tác cán bộ nữ tại các đô thị phát triển nhanh. Trong thời gian tới, các cấp ủy Đảng và chính quyền cần quyết liệt triển khai quy hoạch nhân sự gắn với kiểm tra định kỳ. Hãy áp dụng ngay các luận cứ và giải pháp từ luận văn để tạo bước chuyển biến thực chất cho công tác bình đẳng giới tại địa phương.