Luận văn thạc sĩ tư tưởng hồ chí minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố đà nẵng hiện nay

Luận văn thạc sĩ phân tích tư tưởng hồ chí minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố đà nẵng hiện, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nữ Quyền

Nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới tại Đà Nẵng là một nhiệm vụ cấp thiếtthời sự. Tư tưởng này, xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc và sự thấu hiểu nỗi khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến, đã trở thành kim chỉ nam cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn lớn, góp phần vào việc thực hiện hiệu quả các chính sách về bình đẳng giới tại Đà Nẵng. Luận văn này đặt mục tiêu làm rõ những nội dung cơ bản của Học thuyết Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp để nâng cao vị thế phụ nữ trong xã hội. "Đàn bà cũng là người. Nếu cả dân được tự do thì đàn bà cũng được tự do" (Hồ Chí Minh).

1.1. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Luận Văn Này

Trong bối cảnh hiện nay, khi vấn đề giới vẫn còn tồn tại nhiều bất bình đẳng, nghiên cứu này giúp phân tích sâu sắc hơn về tư tưởng tiến bộ của Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này có tính ứng dụng cao, giúp Đà Nẵng xây dựng các chính sách phù hợp nhằm phát huy vai trò và quyền lợi của phụ nữ, đóng góp vào sự phát triển xã hội của thành phố. Đặc biệt, việc địa phương hóa tư tưởng Hồ Chí Minh là vô cùng quan trọng để phù hợp với điều kiện văn hóaxã hội cụ thể của Đà Nẵng.

1.2. Phạm Vi Nghiên Cứu Tập Trung Tại Thành Phố Đà Nẵng

Luận văn này tập trung vào Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới, đồng thời xem xét việc vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn tại Đà Nẵng. Nghiên cứu này không chỉ giới hạn trong giai đoạn lịch sử cụ thể mà còn mở rộng đến công cuộc đổi mới hiện nay. Phương pháp nghiên cứu sử dụng bao gồm tổng quan lý luận, phân tích tài liệu, và khảo sát thực tế tại Đà Nẵng để đưa ra những đánh giá khách quan và toàn diện.

II. Cơ Sở Lý Luận Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giải Phóng Nữ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Người khẳng định rằng, giải phóng dân tộc phải đi đôi với giải phóng phụ nữ, và chỉ khi phụ nữ được giải phóng thì xã hội mới thực sự bình đẳng và tiến bộ. "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ".

2.1. Các Quan Điểm Cốt Lõi Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ bao gồm nhiều quan điểm cốt lõi, như: phụ nữ phải được tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị; phụ nữ phải được hưởng quyền bình đẳng như nam giới; phụ nữ phải được tạo điều kiện để phát triển toàn diện; và phụ nữ phải được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử. Những quan điểm này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với số phận và quyền lợi của phụ nữ.

2.2. Mối Liên Hệ Giữa Giải Phóng Phụ Nữ và Giải Phóng Dân Tộc

Hồ Chí Minh luôn coi giải phóng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của giải phóng dân tộc. Người cho rằng, khi dân tộc còn bị áp bức, bóc lột thì phụ nữ cũng không thể có được tự do và hạnh phúc thực sự. Do đó, sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, và chỉ khi dân tộc được giải phóng thì phụ nữ mới có cơ hội để phát triển toàn diện.

2.3. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

Không chỉ ở ngoài xã hội, Hồ Chí Minh cũng đề cao sự bình đẳng giới trong gia đình. Người cho rằng, gia đình là tế bào của xã hội, và chỉ khi gia đình thực sự bình đẳng thì xã hội mới có thể bình đẳng. Do đó, cần xây dựng một gia đình hạnh phúc, trong đó mọi thành viên đều được tôn trọng, yêu thương và chăm sóc.

III. Thực Trạng Bình Đẳng Giới Tại Đà Nẵng Hiện Nay

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện bình đẳng giới tại Đà Nẵng, song vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Một số thực trạng đáng chú ý bao gồm: sự chênh lệch về thu nhập giữa nam và nữ, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo còn thấp, và tình trạng bạo lực gia đình vẫn còn diễn ra. Để đánh giá một cách khách quan, cần phải phân tích cả những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách về bình đẳng giới.

3.1. Những Thành Tựu Đạt Được Trong Thực Hiện Bình Đẳng Giới

Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế - xã hội, và cải thiện quyền lợi của phụ nữ trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế và việc làm. Các chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và phát triển kinh tế cũng đã mang lại những kết quả tích cực.

3.2. Thách Thức Và Hạn Chế Còn Tồn Tại

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những thách thức và hạn chế trong việc thực hiện bình đẳng giới tại Đà Nẵng. Một số định kiến giới vẫn còn ăn sâu trong xã hội, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của phụ nữ. Tình trạng bạo lực gia đình và xâm hại tình dục vẫn còn diễn ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần của phụ nữ. Cần có những giải pháp quyết liệt hơn để giải quyết những vấn đề này.

3.3. Ảnh Hưởng Của Yếu Tố Văn Hóa Xã Hội Đến Bình Đẳng Giới

Các yếu tố văn hóaxã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện bình đẳng giới tại Đà Nẵng. Những quan niệm truyền thống về vai trò của nam và nữ trong gia đình và xã hội đôi khi cản trở sự phát triển của phụ nữ. Cần có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục để thay đổi những quan niệm lạc hậu và thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống.

IV. Giải Pháp Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Tại Đà Nẵng

Để thực hiện hiệu quả Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới tại Đà Nẵng, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này phải dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng và phù hợp với điều kiện văn hóaxã hội cụ thể của thành phố. Cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, xây dựng các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền của phụ nữ.

4.1. Tăng Cường Tuyên Truyền Giáo Dục Về Bình Đẳng Giới

Cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới trong cộng đồng, đặc biệt là trong giới trẻ. Các hình thức tuyên truyền, giáo dục cần đa dạng và phù hợp với từng đối tượng, như: tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, chiếu phim, và phát tờ rơi. Cần chú trọng đến việc thay đổi nhận thức và thái độ của mọi người về bình đẳng giới.

4.2. Xây Dựng Các Chính Sách Hỗ Trợ Phụ Nữ Phát Triển

Đà Nẵng cần xây dựng các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống, như: tạo điều kiện cho phụ nữ được học tập, đào tạo nghề; hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và phát triển kinh tế; và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lao động và việc làm. Cần có những chính sách ưu tiên dành cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn.

4.3. Xử Lý Nghiêm Các Hành Vi Vi Phạm Quyền Của Phụ Nữ

Cần xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền lợi của phụ nữ, như: bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, và phân biệt đối xử. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ được bảo vệ một cách hiệu quả. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền lợi của phụ nữ.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Đóng Góp Và Ý Nghĩa Thực Tiễn

Nghiên cứu này mang lại những kết quả nghiên cứu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới, đồng thời cung cấp những giải pháp thiết thực để nâng cao vị thế phụ nữ tại Đà Nẵng. Những đóng góp này có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn, giúp cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh.

5.1. Tổng Kết Những Phát Hiện Mới Trong Nghiên Cứu

Nghiên cứu này đã phát hiện ra những khía cạnh mới trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, đặc biệt là mối liên hệ giữa giải phóng phụ nữ và sự phát triển bền vững của xã hội. Nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện bình đẳng giới tại Đà Nẵng, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp.

5.2. Khuyến Nghị Chính Sách Dựa Trên Kết Quả Nghiên Cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể, nhằm giúp Đà Nẵng thực hiện hiệu quả hơn các mục tiêu về bình đẳng giới. Những khuyến nghị này tập trung vào việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục, xây dựng các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền lợi của phụ nữ.

VI. Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giới

Nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới cần được tiếp tục phát triển trong tương lai. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của vấn đề này, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các địa phương khác trong cả nước. Nghiên cứu này có tính cấp thiếtthời sự, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một xã hội bình đẳng và tiến bộ.

6.1. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Mới Về Chủ Đề Này

Các hướng nghiên cứu mới có thể tập trung vào việc phân tích so sánh Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ với các học thuyết khác trên thế giới, hoặc nghiên cứu về vai trò của văn hóaxã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới. Cần có những nghiên cứu liên ngành để có cái nhìn toàn diện về vấn đề này.

6.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn Đời Sống

Quan trọng nhất là việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống, giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữbình đẳng giới, từ đó góp phần xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh.

25/04/2025
Luận văn thạc sĩ tư tưởng hồ chí minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố đà nẵng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 BÌNH ĐĂNG GIỚI - MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH TRONG TƯ TƯỞNG CỦA HÒ CHÍ MINH VE GIAI PHONG PHY NU’ 1. TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ- CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁU TRÚC khái niệm, công cụ liên quan đến giải phóng phụ nữ và về giải phóng phụ nữ Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, giải phóng nghĩa là làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, rằng buộc [71]. Giải phóng phụ nữ là làm cho người phụ nữ được tự do, được thoát khỏi địa vị nô lệ, thoát khỏi tình trạng bị áp bức và tỉnh trang bat bình đẳng với nam giới về mặt kinh tế - xã hội. Giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt đẻ.

Giái phóng phụ nữ không chỉ là giải phóng thân thế, giải phóng tư duy, mà giải phóng cho họ cái gọi là quyền bình đăng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Do vậy, giải phóng phụ nữ trước hết phải xóa bỏ ách áp bức dân tộc, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, đem lại hạnh phúc, tự do, dân chú cho con người; làm cho người phụ nữ phát huy được đẩy đủ phẩm giá con người của mình.

“Theo chủ nghĩa Mác, trình độ giải phóng phụ nữ là một tiêu chỉ phản ánh trình độ giải phóng xã hội nói chung. Muốn thực sự giải phóng phụ nữ thì phái xóa bỏ nguyên nhân kinh tế đẻ ra mọi hình thức áp bức, bóc lột. Một mặt, sự kết hôn không còn bị lợi ích tư hữu chỉ phối; gia đình được xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa nam vả nữ về quyền và trách nhiệm. Mặt khác, xã " hội tổ chức cho phụ nữ được học hành, lao động và công hiến năng lực, phát triển dịch vụ công cộng để giảm nhẹ các dạng lao động trong nhà, dành thì giờ để nâng cao trình độ văn hóa và phát triển ¡ hỏa nhân cách cho mỗi người.

Ngày nay, giải phóng phụ nữ vẫn là một nhiệm vụ trọng đại, bức thiết có ý nghĩa toản cầu. Bình đẳng giới Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau vẻ thành quả của sự phát triển đó 0] c. Dinh kién giới, phân biệt đối xử về giới ~ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. ~ Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới ~ Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. ~ Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới. ~ Biện pháp thúc đây bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới ~ Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới ~ Bao đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thí pháp luật. ~ Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tô chức, gia đình, cá nhân.

Mục tiêu bình đẳng giới Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam vả nữ trong phát triển kinh tế - xã hội vả phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình [30], 1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tải của Đảng ta, nhà tư tưởng lớn của thời đại; anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Người dành cả cuộc đời và sự nghiệp cho dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm về đường lối cách mạng và sự chuẩn mực vẻ tính cách Việt Nam trong thời đại mới: giải phóng, dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ nhiều nguồn gốc, trong đó có truyền thống văn hóa phương Đông và văn hóa Việt Nam.

Những tư tưởng của Người mang tính nhân đạo cao cả, không chỉ phủ hợp với dân tộc Việt Nam mà còn phù hợp với nhân loại tiền bộ. Một trong những tư tưởng đó là tư tưởng về giải phóng. phụ nữ và bình đẳng nam - nữ. Là một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người phụ nữ dưới chế độ cũ bị rằng buộc khắt khe với bao tập tục lạc hậu làm cho người phụ nữ cực khé va dét nat tối tăm, đặc biệt là phụ nữ không duge hoc.

Tam ly “trong nam khinh nữ” của Nho giáo đã cột chat người phụ nữ vào gia đình. Hiểu và thông cảm sâu sắc với người phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Dưới chế độ phong kiển thực dân phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội phụ nữ bị xem. khinh như nô lệ, trong gia đình họ bị kìm hầm bởi xiêng xích tam tong.

Vi vay cẩn giải phỏng phụ nữ thoát khói xiằng xích trỏi buộc họ, Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân ta chịu một cô hai tròng áp bức, mang trong mình nỗi đau của dân tộc mắt nước. Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã đi qua khắp năm châu, bón bề. Người có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu đời sống phụ nữ khắp nơi, chứng kiến sự phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra ở nhiều quốc gia trên thể giới, Người so sánh đời sống khổ cực của phụ nữ nhiều nước thuộc địa nghẻo, lạc hậu ở phương.

Đông với phụ nữ các nước phương Tây. Người cảng hiểu sâu sắc hơn những. căn nguyên gây nên tình trạng đau khổ, bắt bình đẳng mà phụ nữ phải chịu. Từ tìm hiểu cuộc sống phụ nữ khắp năm châu Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: Không chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của thực dân.

Trong các bài viết đăng trên báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Người cùng khổ. Hỗ Chi Minh đã trình bay vé tinh cảnh phụ nữ trên thể giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Người đã dành nguyên một chương (Chương XI) để mô tả về “Mỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ". Người đã nêu sự thật về việc xâm phạm thô bạo các quyển cơ bản của con người, về những áp bức, bóc lột, bắt công, lầm than, tủi nhục ma người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu.

Người nhận định: “Dưới chế độ thực dân phong kiển, nhân dân ta bị áp bức và bóc lội, thì phụ nữ ta bị áp bức và bóc lột nặng nẻ hơn” |1, tr. *Trong xã hội và gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng. một chút quyền lợi gỉ " [31, tr. Hỗ Chí Minh không những mô tả, mả còn phê phán các chính sách phản động của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đối với phụ nữ Việt Nam 14 và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tỉnh trạng ấy, Người cho rằng, nguyên nhân của tỉnh trạng phân biệt đối xử với phụ nữ lả do những quan niệm của chế độ phong kiến lỗi thời để lại và từ bản chất của chế độ chính trị thuộc địa nửa phong kiến mà thực dân Pháp áp đặt đối với nước ta.

Nhận thức đúng nguyên nhân dẫn đến tỉnh trạng áp bức, bóc lột, bất công mả những người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu, với sự xót xa, đồng cảm, tình yêu thương, quý trọng con người, trong hành trình tìm đường cứu nước của mình, Người cũng đã nghiên cứu tìm ra con đường giải phóng phụ nữ Việt Nam. Hỗ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân ~ phong kiến đối với người phụ nữ mà còn động viên, tổ chức cho người phụ nữ tham gia công cuộc giải phỏng dân tộc, cứu nước. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh" được tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc), giữa những năm 20 (thế kỷ XX), Người viết “Ông C.Mác nói rằng: “4i biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nỗi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gai thi biết xã hội tiến bộ như thể nào?”.

Ông Lê-nin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết việc nước, như thể cách mệnh mới gọi là thành công” [36, tr228] Chế độ thực dân đã xúc phạm nhân phẩm của người phụ nữ cực kỳ vô liêm sỉ. Để cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh cho rằng: chỉ có con đường duy nhất là làm cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này muốn giảnh thắng lợi phải có phụ nữ tham gia, cách mạng mới thành công. Mang trong mình chủ nghĩa yêu nước chân chỉnh, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, đề rồi khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người gắn giảnh độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đấu tranh cho tự do, hạnh phúc của con người, Người luôn xác định, để giải phóng con người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng, trước tiên phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, lật đỗ chế độ thuộc địa nửa phong kiến và thiết lập chế độ dân chủ nhân dân.

Sau đó, là tiến hảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp đấu tranh để giải phóng phụ nữ Việt Nam gắn liễn với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phụ nữ Việt Nam chỉ thực sự được giải phóng, được bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc sau khi tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ