đặt vấn đề vận động quân chúng vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân lao động. Tháng 01 năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Đó là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu suốt cuộc đời của Người. Chính vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng đưa ra nhằm một mục đích đầu tiên và duy nhất là vì lợi ích của nhân dân.
Công tác vận động quần chúng đo đó phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài; lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội. Có như thế, nhân dân mới sẵn sàng hưởng ứng, đem hơi sức dân mà làm lợi cho dân; ngược lại nếu không xuất phát từ lợi ích của dân sẽ không huy động được sức dân, không tạo thành được phong trào quần chúng rộng rãi. “Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư" [Tập 4, tr. 12 Đảng và Chính phủ phải quan tâm, đặt lợi ích của dân lên hàng đầu.
Chăm lo cho lợi ích của nhân dân đó là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhấn mạnh một chiều về vai trò của Đảng, Nhà nước mà Người cho rằng người cán bộ phụ trách dân vận một mặt phải giúp đỡ dân nhưng mặt khác là phải phát huy được tinh thần tự lực cánh sinh của nhân dân. Đoàn kết, tập hợp lực lượng là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận. Đoàn kết không chỉ là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận mà còn là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt tới vấn đề đại đoàn kết dân tộc.
Rất nhiều bài nói và viết của Người liên quan đến vấn đề này. Những vấn đề cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh là: Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh nói: Cách mạng muốn thành công, trước hết phải có Đảng cách mệnh. Nhân dân cần có Đảng dẫn đường.
Bởi vậy đại đoàn kết phải có lãnh đạo. Đảng phải được xây dựng xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là thành viên của Mặt trận. Đảng của giai cấp nhưng Đảng cũng của dân tộc. Nhân dân công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình.
Đây thật là một vinh dự. Đảng là thành viên bình đẳng trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng là thành viên lãnh đạo Mặt trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng thuyết phục và nêu gương. Đảng phải tiêu biểu cho mọi sự đoàn kết nhất trí, bảo đảm dân chủ nội bộ, thống nhất tư tưởng, tự phê bình và phê bình.
Bốn nguyên tắc đại đoàn kết: + Đại đoàn kết toàn dân phải được xây dựng, củng cố trên nền tảng thống nhất chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, trên lợi ích tối cao của dân tộc với quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động. Cốt lõi của nó là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp - dân tộc - nhân loại. Đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây cũng chính là điểm tương đồng để thực hiện đại đoàn kết.
13 + Đoàn kết trên nền tảng vững chắc là liên minh công - nông - trí; trong một tổ chức rộng rãi nhất là Mặt trận Dân tộc thống nhất. Mặt trận phải thực sự xây dựng trên nền tảng đại đoàn kết toàn dân. + Đoàn kết chân thành và triệt để, đoàn kết thật lòng. Muốn vậy phải trên cơ sở tin dân, dựa vào dân thật lòng, chống “bệnh độc hành” hẹp hòi.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Bệnh hẹp hòi rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ, đảng viên còn mắc phải. Trong thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi,.
đều do bệnh hẹp hòi mà ra. Trong sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh viết: “Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi,. địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ trong phá ra” [Tập 5, tr.
Hẹp hòi phá hoại đất nước chẳng kém gì tham nhũng, đặc biệt đối với hai quốc sách: Đoàn kết toàn dân, trọng dụng nhân tài. + Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, không đoàn kết xuôi chiều, gắn với tự phê bình và phê bình để cùng nhau tiến bộ, đoàn kết là để tiến bộ, phát triển. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc được xem là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của cách mạng. Mặt khác, đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
Nói về ý nghĩa vô cùng quan trọng của đại đoàn kết. Tạp chí dân vận số 9 năm 2006, trang 15 trích dẫn bài viết của Người: "Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết". Để thực hiện được đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo… vào khối đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng thì phải vận động, giáo dục, thuyết phục, tổ chức dân chúng tin theo, đi theo và làm theo cương lĩnh, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng tức là phải làm công tác vận động quần chúng.
14 Toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc khi được tập họp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Hồ Chí Minh rất chú ý đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù họp với từng giai cấp, từng ngành nghề, từng giới, từng lứa tuổi, từng tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Đó có thể là các hội ái hữu hay tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay hội phụ nữ đội thiếu niên nhi đồng hay hội phụ lão, hội Phật giáo cứu quốc, Công giáo yêu nước…Trong đó bao trùm nhất là Mặt trận dân tộc thống nhất. Người viết: "Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hoà bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc" [Tập 13, tr. Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua đã chứng minh một chân lý: khi quần chúng nhân dân được thức tỉnh, được tổ chức, đoàn kết, tự giác tham gia cách mạng thì sẽ trở thành một lực lượng vô địch. Trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngay 19 - 5 - 1955, Hồ Chí Minh tổng kết: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch" [Tập 10, tr.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi là một tư tưởng và một thành công lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác dân vận. Người đã tập hợp được những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh coi sức mạnh của nhân dân được tổ chức lại một 15 cách khoa học chính là sức mạnh vô địch; vì vậy công tác dân vận phải hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ có nghĩa là “dân là chủ”.
Quan niệm về dân chủ của Hồ Chí Minh còn được biểu đạt qua hai mệnh đề ngắn gọn: "Dân là chủ” và "Dân làm chủ”. Khi biểu đạt như thế, chúng ta có thể hiểu rằng dân là chủ, nghĩa là đề cập vị thế của dân; còn dân làm chủ, nghĩa là đề cập năng lực và trách nhiệm của dân. Cả hai vế này luôn luôn đi đôi với nhau, thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của dân. Đây là quan niệm được Hồ Chí Minh diễn đạt ngắn gọn rõ ràng, đi thẳng vào bản chất của khái niệm trong cấu tạo quyền lực của xã hội.
Mở rộng theo ý đó, Hồ Chí Minh còn cho rằng: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhà nước do nhân dân làm chủ” [Tập 6, tr. Dân là gốc thì dân phải là chủ “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân” [Tập 9, tr. Theo Người, để phát huy được vai trò và tập họp được sức mạnh đoàn kết của nhân dân thì phải phát huy dân chủ, tức là phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực, bởi vì, Người cho răng: "Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ” [Tập 9, tr.
Dân vận và dân chủ là hai phạm trù khác nhau nhưng luôn gắn bó hữu cơ mới nhau, tác động biện chứng lẫn nhau. Dân vận gắn bó với dân chủ và thực hành dân chủ; có dân chủ và thực hành dân chủ thật tốt mới dân vận được; ngược lại dân vận không thành công nếu không thực hành dân chủ; dân vận phải đạt tới dân chủ và thực hiện dân chủ là kết quả của dân vận, Hồ Chí Minh cho rằng: làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm.