CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về nghèo, giảm nghèo và chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững * Nghèo Nghèo là một khái niệm được biết đến từ khá lâu, được sử dụng khá rộng rãi trong cuộc sống nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoặc định nghĩa nào hoàn chỉnh và thống nhất. Khái niệm nghèo được hiểu và thay đổi theo thời gian, từng khu vực.
Một số khái niệm nghèo được biết đến như sau: Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển kinh tế - xã hội (năm 1995): “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Ở Việt Nam, tình hình kinh tế - xã hội cũng như mức thu nhập trong những năm qua, khái niệm về nghèo của nước ta được xác định như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia”. Hiện nay, nghèo ở nước ta được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo đa chiều.
Để xác định nghèo, ở nước ta được căn cứ vào: Một là, căn cứ vào chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐ - TB&XH công bố. Hai là, chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân Hàng thế giới. Hiện nay, chủ yếu là sử dụng chuẩn nghèo do Bộ LĐ - TB&XH đưa ra. Chuẩn nghèo đã được tính toán dựa vào nhu cầu chi tiêu cơ bản của thực phẩm, lương thực 11 (nhu cầu ăn, uống hàng ngày) và các nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm (nhà ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, giao tiếp xã hội, đi lại).
Tuy có khá nhiều khái niệm và định nghĩa về nghèo nhưng về bản chất vẫn thấy được tiêu chí chung đó là mức thu nhập cho việc thỏa mãn nhu cầu sống cơ bản nhất của con người: ăn, uống, học tập, khám chữa bệnh, gọi chung là dịch vụ xã hội. Và tác giả thống nhất với quan niệm của Bộ LĐ - TB&XH đã công bố “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Đây là quan niệm mà tác giả đã sử dụng trong nội dung luận văn thạc sỹ của mình. * Giảm nghèo: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh ” là mục tiêu hướng đến của đất nước ta, nhưng để đạt được điều đó thì yêu cầu công tác giảm nghèo bền vững phải được chú trọng.
Giảm nghèo không có khái niệm rõ ràng mà đó là mục đích, được hiểu ngay trên nghĩa tường minh của từ là “giảm nghèo” căn cứ trên tiêu chuẩn xác định của nghèo. Chúng ta có thể hiểu về giảm nghèo như sau: “Giảm nghèo đó là sự gia tăng về mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội của dân, từ lựa chọn ít sang lựa chọn nhiều, từ thiếu thốn sang hoàn thiện, đầy đủ”. Giảm nghèo tức là đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, từ nghèo bước sang thoát nghèo rồi nâng lên mức khá, mức giàu. Bên cạnh đó, còn có một số khái niệm liên quan đến giảm nghèo là: Giảm nghèo của hộ nghèo: Tức là tăng nhiều khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của hộ gia đình.
Vùng nghèo hoặc xã nghèo: Tức là giảm số lượng, tỷ lệ hộ nghèo của địa bàn. Bản chất thực sự của nghèo căn cứ trên mức thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thì giảm nghèo tức là tăng mức thu nhập và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của hộ nghèo. 12 * Về giảm nghèo bền vững: Căn cứ trên nhiều cách hiểu về “giảm nghèo” và “bền vững” thì cụm từ “giảm nghèo bền vững” được hiểu là: Đó là giảm nghèo và phát triển bền vững, điều đó thể hiện trên các khía cạnh tạo cơ hội cho người dân nghèo thoát nghèo và ổn định, không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội mang đến. Việc giảm nghèo phải đảm bảo được sự phát triển bền vững trên tất cả các mặt KT-XH, môi trường và thể chế.
Từ đó, có thể hiểu “giảm nghèo bền vững” là quá trình giảm nghèo đảm bảo được sự cải thiện đồng thời của sự bền vững về kinh tế - xã hội, môi trường của một nước, một địa phương, một cộng đồng dân cư, của một hộ gia đình. Nói cách khác là hộ đạt được mức thỏa mãn các dịch vụ của xã hội, mức thu nhập cao hơn mức độ nghèo, không còn có nguy cơ tái lại nghèo trong thời gian dài. * Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững: Theo Giáo trình Quản lý học của Trường ĐH Kinh tế quốc dân thì “Chương trình bao gồm một số các mục đích, chính sách, thủ tục, quy tắc, các nhiệm vụ được giao, các bước phải tiến hành, các nguồn lực có thể huy động và các yếu tố khác. Chương trình được hỗ trợ bằng những ngân sách cần thiết”, Chương trình mục tiêu quốc gia: “Là một tập hợp các nhiệm vụ, mục tiêu và giải pháp đồng bộ về KT-XH, khoa học công nghệ, cơ chế, chính sách, môi trường, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong chiến lược phát triển KT-XH chung của đất nước trong thời kỳ nhất định”.
Theo Bộ LĐ - TB và XH: “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là tổng hợp các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ dành cho các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), xã biên giới, xã an toàn khu các thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (gọi tắt là Chương trình 135 giai đoạn III), là một trong những chính sách dân tộc quan trọng nhất trong hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước”. Mục tiêu, đối tượng của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững * Mục tiêu: “Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế việc tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản” (nhà ở, y tế, tiếp cận thông tin, giáo dục, nước sinh hoạt và vệ sinh), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị quyết Quốc hội đã đề ra. Mục tiêu cụ thể: - Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân từ 1% đến 1,5%/năm (riêng hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm từ 3% đến 4%/năm; các huyện nghèo, xã nghèo đã giảm 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. - Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo nước ta cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2016 (riêng hộ nghèo ở huyện nghèo, các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần).
- Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản nhất của người nghèo. - Cơ sở hạ tầng KT-XH tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đã được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí chuẩn nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như trạm y tế, trường học, giao thông, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt; tạo điều kiện cho người dân tham gia thực hiện các hoạt động của Chương trình để tăng thu nhập thông qua tạo việc làm công nhằm phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, góp phần giảm rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và cải thiện tiếp cận thị trường. * Đối tượng của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững 14 - Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo trên phạm vi cả nước; ưu tiên những hộ nghèo dân tộc thiểu số và phụ nữ thuộc hộ nghèo. - Người dân, cộng đồng trên địa bàn của các huyện nghèo, xã nghèo.
- Các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn hải đảo và vùng bãi ngang ven biển; xã biên giới, xã an toàn khu, xã đặc biệt khó khăn, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quyết định phê duyệt của các cấp có thẩm quyền. - Một số tổ chức và cá nhân có liên quan. Quản lý thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững của chính quyền cấp huyện: 1. Khái niệm và các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác QLNN đối với chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 1.
Khái niệm Theo Điều 4 luật đầu tư công 2014, Chương trình đầu tư quốc gia là chương trình đầu tư công nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của từng gia đoạn cụ thể trong phạm vi cả nước. Quản lý thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là một tập hợp các hoạt động của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý trong điều kiện biến động của môi trường nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trình với một khoản ngân sách và một thời gian thực hiện đã được xác định. Như vậy đối với quản lý thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững cấp huyện thì chủ thể quản lý là chính quyền huyện trên địa bàn, còn đối tượng quản lý là các hộ dân trên địa bàn huyện.