Chương 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC VÀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1. CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC VÀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội thế giới cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, với việc hình thành tư tưởng đạo đức và quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng đạo đức nói riêng, chính là kết quả và sản phẩm của thực tiễn xã hội những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cuối thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ đặc biệt là ở Anh và Pháp.
Chủ nghĩa tư bản chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, từ tự do cạnh tranh chuyển sang độc quyền và đế quốc chủ nghĩa. Trong thời kỳ này, lịch sử sản xuất của xã hội có những bước chuyển biến quan trọng. Các ngành công nghiệp đều phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhiều ngành sản xuất mới xuất hiện như điện luyện kim, điện hóa học, xe điện, hàn điện. Cùng với công nghiệp, ngành giao thông vận tải mà đặc biệt là ngành đường sắt và đường biển cũng có những tiến bộ vượt bậc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, đánh dấu bước tiến cực kỳ quan trọng trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội.
Khi lực lượng sản xuất chuyển biến mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất với quy mô ngày càng lớn. Tình hình này đòi hỏi các nước tư 11 bản phải có nhiều nguồn nguyên liệu, nguồn nhân công cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ. Để giải quyết vấn đề này, các nước tư bản đế quốc, một mặt thì bóc lột nhân dân lao động trong nước một cách tàn bạo, mặt khác chúng không ngừng đẩy mạnh quá trình xâm lược thuộc địa. Do đó, các nước thuộc địa bị biến thành nơi cung cấp nguyên vật liệu, khai thác sức lao động, thị trường tiêu thụ hàng hóa và xuất khẩu tư bản.Lênin đã chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên liệu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu trên toàn thế giới càng ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn” [99; 481].
Lịch sử ba mươi năm cuối thế kỷ XIX gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược do các nước đế quốc tiến hành ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh đã chứng minh cho luận điểm này. Chủ nghĩa đế quốc không chỉ vơ vét, bóc lột, khai thác thuộc địa về kinh tế mà chúng còn nô dịch, áp bức về mặt tinh thần; chúng đầu độc và phá hoại những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thuộc địa. Nó được che đậy bởi những ngôn từ hoa mỹ “tự do- bình đẳng- bác ái”, được núp dưới chiêu bài “khai hóa văn minh”. Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất thật sự của chủ nghĩa thực dân, đế quốc: “Bổn phận, đến nhân đạo và khai hóa! Vậy bổn phận ấy là cái gì?.
Đó là thị trường, là cạnh tranh, là lợi tức, là đặc quyền. Buôn bán, tài chính, đó là những cái tượng trưng cho lòng nhân đạo của các ông. Sưu thuế, lao dịch, bóc lột nặng nề - công cuộc khai hóa của các ông, tóm lại là thế đó” [78; 137-138]. Và đối với bọn đế quốc, thực dân thì “tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [105; 30].
Bên cạnh chính sách thực dân tàn bạo đối với các nước thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc còn không ngừng tăng cường áp bức, bóc lột dã man đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước. Hồ Chí Minh trên hành trình đi tìm đường cứu nước cũng đã tận mắt chứng kiến tội ác của chủ nghĩa đế quốc ngay trên đất nước mình. Cho dù ở nước Mỹ hay Pháp thì cũng không có 12 cái gọi là “tự do-bình đẳng- bác ái” mà chỉ có thân phận những người da đen, những người nô lệ bị chà đạp, bị xiềng xích, gông cùm; có sự đối lập giữa những lâu đài nguy nga và những khu ổ chuột; giữa giàu sang và đói rét; những cảnh chém giết và bóc lột. Hồ Chí Minh hiểu rằng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [78; 266].
Chính bởi sự áp bức, bóc lột tàn bạo đó, đã làm nảy sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Mâu thuẫn này càng ngày càng trở nên gay gắt bên cạnh mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản. Do đó, khi bước sang thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng không còn là hành động riêng lẻ của mỗi nước như trước kia nữa, mà trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế. Độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa trở thành vấn đề cấp thiết mang tính thời đại, là khát vọng chung của các dân tộc trên thế giới.
Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc, mà nguyên nhân sâu xa là do sự phát triển không đồng đều trong phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1900 - 1903, sau đó là tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Đây thực chất là cuộc chiến tranh nhằm giành giật thuộc địa và phân chia lại thị trường thế giới giữa các nước đế quốc. Cuộc chiến tranh phi nghĩa này đã để lại cho nhân dân thế giới những hậu quả rất nặng nề. “Nó đã làm tiêu hao 180 tỷ đô la chiến phí trực tiếp và 150 tỷ đô la chiến phí gián tiếp, nó làm cho 10 triệu người phải chết oan và 20 triệu người bị thương tật” [3; 173].
Đồng thời, nó cũng làm cho nền kinh tế của các nước tham chiến ở Châu Âu ảnh hưởng nặng nề, xã hội chao đảo. Vì thế các nước này trút gánh nặng bằng cách tăng cường bóc lột, đàn áp các nước thuộc địa, phụ thuộc. 13 Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là nước thắng trận nhưng do Pháp là chiến trường chủ yếu trong chiến tranh nên tổng số thiệt hại về vật chất và tinh thần do cuộc chiến tranh này gây ra là rất lớn, cụ thể: 1,3 triệu người chết, 3 triệu người bị thương và tổn thất gần 200 tỷ phơ-răng, thiếu nợ của Anh lên đến 13 tỷ phơ-răng. Năm 1919 sản lượng công nghiệp của Pháp chỉ bằng 57% trước chiến tranh, sản lượng nông nghiệp chỉ bằng 60% trước chiến tranh,… [3; 179].
Trước khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, nước Anh là trung tâm tài chính của thế giới nhờ lực lượng công nghiệp hùng hậu làm nền tảng. Nền kinh tế của Anh ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Đến khi chiến tranh kết thúc, nước Anh đã đánh mất ngôi vị bá chủ nền kinh tế thế giới. Chiến tranh đã làm cho nền kinh tế nước Anh trở nên kiệt quệ, việc đầu tư ra nước ngoài của Anh đã giảm sút 50%.
Anh trở thành con nợ của Mỹ với số tiền lên đến 4 tỷ đô la, số tiền bị hao tổn quân phí lên đến 8 tỷ bảng Anh, số sĩ quan và binh sĩ của họ bị chết lên đến 947.000 người, số bị thương lên đến 2,12 triệu người, 70% thương thuyền của họ bị đánh đắm… [3; 162-177]. Đức trong chiến tranh là nước bại trận nên phải bồi thường chiến phí là 132 tỷ mác. Do số tiền bồi thường quá lớn nên đồng Mác của Đức bị sụt giá, nền tài chính bị sụp đổ. Tất cả tiền tiết kiệm, tiền bảo hiểm của nhân dân Đức đều bị tan biến thành mây khói, … [3; 261].
Trong khi Anh, Pháp, Đức là những nước chịu nhiều thiệt hại trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) thì Mỹ lại là nước thắng thế. Mỹ giàu lên nhanh chóng trong chiến tranh, trở thành chủ nợ (số nợ các nước châu Âu phải trả cho Mỹ lên tới 10 tỷ đô la). Mỹ đầu tư ra nước ngoài 6,4 tỷ đô la, trữ lượng vàng chiếm 40% dự trữ vàng trên thế giới … [3; 75]. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) đã làm cho các nước tư bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng căng thẳng hơn.
Trong nội bộ các nước đế quốc, đối kháng giai cấp sâu sắc dẫn 14 tới cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Trong khi giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa nhân dân lao động thì ngược lại giai cấp vô sản đoàn kết tập trung lực lượng, trưởng thành về ý thức, vững mạnh về tổ chức, tiến hành cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình đồng thời giải phóng nhân dân lao động. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhân dân các nước thuộc địa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản không ngừng phát triển và ngày càng gay gắt. Tình hình này đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ, hướng đến một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm giải phóng những người lao động bị áp bức, bóc lột và giành nền độc lập dân tộc.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận cách mạng dẫn đường. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng dẫn đến sự ra đời của của học thuyết Mác như một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của lịch sử. Sau Công xã Pari 1871, Quốc tế I tan rã. Phong trào công nhân bắt đầu thời kỳ mới tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh tương lai chống chủ nghĩa tư bản.