CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA V. LÊNIN VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI 1. Những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng của V. Lênin về Đảng kiểu mới 1.
Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hình thành tư tưởng của V. Lênin về Đảng kiểu mới Lịch sử đã chứng minh cho sự ra đời những tư tưởng của V. Lênin nói chung và tư tưởng về Đảng kiểu mới nói riêng hoàn toàn không đơn thuần là sự lặp lại giản đơn những gì đã có của chủ nghĩa Mác trước đó, mà là sự phát triển chủ nghĩa Mác trong một thời đại mới – thời đại mà các điều kiện về kinh tế, chính trị và xã hội tư bản trên thế giới đã có những đặc điểm thay đổi rõ rệt. Về kinh tế, sự phát triển vượt bậc của chủ nghĩa đế quốc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX làm cho những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản phát triển đến tột đỉnh trên phạm vi toàn thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng của nền đại công nghiệp gắn liền mật thiết với nền tảng khoa học, kỹ thuật tiên tiến đã dọn đường cho cách mạng công nghiệp trong nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai làm cho lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa được xã hội hóa thêm bước mới với các hình thức tổ chức công nghiệp hiện đại cùng những làn sóng thôn tính xí nghiệp trên phạm vi rộng. Nhờ vào những điều kiện cơ bản đó mà chủ nghĩa tư bản nhanh chóng chuyển sang giai đoạn độc quyền, phá hoại và hạn chế cạnh tranh tự do, buộc chúng hoặc là xâu xé, hoặc là kết hợp với nhau để tăng cường sức mạnh thống trị nền kinh tế. Trong thế giới lúc bấy giờ, sự thống trị tài chính ngày càng lớn của các nước tư bản tiên tiến làm tăng lên những mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và những cơ sở của chủ nghĩa tư bản, dẫn đến các nhóm tài chính và cường quốc mới chống lại các nhóm tài chính và cường quốc cũ đang cố gắng bám lấy những gì mà họ đã chiếm được tại thuộc địa; đồng thời cũng tạo cơ sở cho sự hình thành các mặt trận vô sản của người lao động ở chính quốc.
Cùng với quá trình mở rộng vùng ảnh hưởng bằng nô dịch tài chính, áp bức thuộc địa của chủ nghĩa tư bản biến các quan hệ kinh tế giữa các nước trở thành một thể liên kết, phân thế giới thành hai cực, một cực là vùng đất dư giàu 11 của cải của chủ nghĩa tư bản; cực còn lại miếng đất rộng lớn, cằn cỗi, khổ cực của những người bị nô dịch tại thuộc địa. Sự giàu có của thế giới tư bản như một tất yếu bởi những yếu tố thuận lợi được sản sinh ra trong quá trình hình thành giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng sự giàu có ấy lại có sự chênh lệch lớn làm mất cân bằng về sở hữu. Kết quả của sự mất cân bằng ấy chính là những cuộc chiến không khoan nhượng giữa các nhóm tài chính, cường quốc, đế quốc trong việc tìm kiếm, đòi chia lại các nguồn lực lợi ích trở nên điên cuồng, man rợ. Cuộc chiến giữa các nước đế quốc đã liên hệ những mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa các nhóm tài chính và các cường quốc, đế quốc chủ nghĩa thành một mối.
Ngẫu nhiên, nó lại trở thành nguyên nhân sâu xa của những cuộc khủng hoảng mang tính chu kỳ trong xã hội tư bản và cùng lúc trở thành động lực cho những cuộc chiến của giai cấp vô sản nổ ra mau chóng và nhiều hơn. Tại nước Nga, sự hiện diện của chủ nghĩa tư bản phát triển cao đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu dưới chính quyền Nga Hoàng. Mặc dù chủ nghĩa tư bản phát triển cao đã góp phần tạo ra những bước tiến vượt bật cho nền kinh tế Nga, song có thể khẳng định nước Nga vẫn là một nước sản xuất nông nghiệp, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ cùng giai cấp quý tộc phong kiến. Những tàn dư của hình thức kinh tế nông nô lạc hậu vẫn ảnh hưởng hết sức nặng nề làm cho người dân chịu cảnh lầm than tột độ.
Người công nhân tại Nga phải làm việc cật lực trong suốt một thời gian dài với điều kiện không khác gì người tù khổ sai để hưởng những đồng lương rẻ mạt. Những mâu thuẫn trong lòng nước Nga bắt đầu bộc lộ rõ rệt giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa những người nông dân và bọn địa chủ, quý tộc phong kiến và cuối cùng phải kể đến là mối quan hệ “xảo trá” của nhóm người tư sản và chế độ phong kiến quân phiệt Nga hoàng. Cuộc cải cách nông nô năm 1861, tư bản nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Nga, ra sức khai thác những nguồn lực trên đất nước dưới sự thống trị của chính quyền Nga hoàng. Giai cấp tư sản nước ngoài đánh giá nước Nga là chỗ dựa hùng hậu của phương Đông và là một kho lương thực to lớn, sở hữu lượng tài nguyên dồi dào.
Nền kinh tế quốc dân tập trung là các ngành công nghiệp nặng ở Nga đều được Nga hoàng mở rộng cửa và kết quả là đều nằm trong tay tư bản ngoại quốc. Các món nợ tài chính mà chính quyền Nga hoàng đã vay tại các nước Đông Âu được chính quyền Nga 12 hoàng áp xuống cho người dân phải lao động để trả. Sự chồng chất về các khoản nợ và các mối quan hệ phụ thuộc tài chính làm cho nền kinh tế Nga một lần nữa rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tóm lại, sự chuyển biến của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền trên thế giới và tại Nga đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế nước Nga vốn đang trì trệ và chậm phát triển.
Những yếu tố lợi ích của chủ nghĩa đế quốc và chính quyền Nga hoàng trong lĩnh vực kinh tế giờ đây đã tổng hòa thành một, làm cho bộ phận giai cấp bị trị - giữ vai trò sản xuất chủ đạo trong xã hội lâm vào tình cảnh hết sức khốn cùng, bị áp bức và bóc lột. Khủng hoảng kinh tế trở nên trầm trọng, làm cho sự bất bình đối với những chính sách kinh tế của chế độ Nga hoàng cao độ, bao trùm những tầng lớp khác nhau trong xã hội nước Nga. Những đặc điểm của nền kinh tế đã ảnh hưởng to lớn đến ý thức về vai trò của công nhân và quần chúng nhân dân lao động trong sự chuyển biến của chính trị - xã hội nước Nga trong giai đoạn này. Về chính trị - xã hội, chính từ điều kiện phát triển kinh tế của chủ nghĩa đế quốc đã kéo theo sự đa dạng hóa trong các lĩnh vực công nghiệp.
Giai cấp tư sản dần mất đi bản chất cách mạng, đặt điều kiện cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động bị vô sản hóa không chỉ chiếm số lượng hùng hậu trong xã hội mà còn lớn mạnh về tổ chức và chính trị thông qua các cuộc đấu tranh thoạt đầu chỉ đòi hỏi về yếu tố kinh tế, nhưng về sau đã có sự phát triển và chuyển hóa thành đấu tranh chính trị. Cách mạng vô sản trở thành một nhiệm vụ thực tiễn và khách quan để giải quyết các mâu thuẫn không còn nhen nhóm trong xã hội hiện tồn. Càng áp bức, càng bóc lột thì người công nhân lại càng giác ngộ và ý thức sâu sắc hơn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình. Trong cuộc chiến ấy, sự ra đời của Đảng Cộng sản là đòi hỏi tất yếu khách quan của nỗ lực đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử thế giới của mình.
Thực hiện sự nghiệp tự giải phóng chính mình thông qua chính Đảng cách mạng của giai cấp, giai cấp công nhân từ giai đoạn chuẩn bị chuyển thành giai đoạn kết thúc, xung kích trực tiếp vào các thành trì của chủ nghĩa tư bản. Ăngghen là những người đầu tiên nêu lên tư tưởng cơ bản về Đảng Cộng sản và cũng chính là những người lãnh đạo vĩ đại có công trong việc xây 13 dựng, củng cố về lý luận về Đảng tiền phong của giai cấp công nhân. Từ những nỗ lực ban đầu, sự ra đời của tổ chức Đồng minh những người cộng sản (6/1847) với tư cách là mô hình kiểu mẫu cho tổ chức Đảng của giai cấp vô sản, thực hiện truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sau đó là tổ chức Hội liên hiệp công nhân quốc tế hay còn được gọi là Quốc tế I (9/1964) được thành lập tại Luân Đôn do C.
Mác soạn thảo Tuyên ngôn và Điều lệ của Hội. Năm 1889, Hội liên hiệp các Đảng xã hội chủ nghĩa (Quốc tế II) được thành lập dưới sự dẫn dắt của Ph. Ăngghen sau khi C. Với tư cách là một tổ chức quốc tế, Quốc tế I và Quốc tế II kêu gọi những người công nhân trên khắp thế giới giác ngộ tư tưởng khoa học, đoàn kết với các tầng lớp lao động, giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại sự tấn công và phản kháng mạnh mẽ của giai cấp tư sản; đấu tranh chống lại các khuynh hướng xã hội chủ nghĩa sai trái, chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập chính Đảng của giai cấp công nhân trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Quốc tế I ra đời, đánh dấu bước trưởng thành của giai cấp công nhân và khẳng định những đóng góp lớn lao của C. Trong nghị quyết của Hội nghị đại biểu của Hội liên hiệp công nhân quốc tế họp ở Luân Đôn tháng 9 năm 1871, do C. Mác và Ph Ăngghen soạn thảo đã có đề cập như sau: “Để chống lại quyền lực liên hiệp của các giai cấp hữu sản, giai cấp công nhân chỉ có thể hành động với tính cách giai cấp khi được tổ chức lại thành một chính đảng độc lập đối với tất cả các đảng phái cũ do giai cấp hữu sản lập ra, sự tổ chức ấy của giai cấp công nhân thành chính đảng là cần thiết để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội và đạt đến mục tiêu cuối cùng của nó là xóa bỏ giai cấp” (C. Mác và Ph Ăngghen, 1994, tr.
Song về sau, sự thất bại của công xã Pari đã làm cho giai cấp tư sản các nước ra sức khủng bố, đàn áp phong trào công nhân, ngăn cấm các phân bộ Quốc tế I hoạt động.