Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - ĐẠO ĐỨC TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - ĐẠO ĐỨC TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC CỦA LÊ THÁNH TÔNG Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, tư tưởng lý luận được xem như biểu trưng cho tinh hoa, tinh thần của thời đại ấy. Sự ra đời của một học thuyết, tư tưởng lý luận không phải là ngẫu nhiên, tự phát mà là kết quả tất yếu của quá trình phản ánh và bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là sự kế thừa biện chứng những giá trị từ học thuyết, tư tưởng lý luận quá khứ. Nên có thể khẳng định, tư tưởng lý luận không ra đời trên một mảnh trống không mà bao giờ cũng nảy mầm từ một mảnh đất màu mỡ, giàu có bởi các giá trị hiện thực.
Đúng như Ph. Ăngghen nhận xét: “Tư tưởng lý luận của thời đại đều là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử. Trong những thời đại khác nhau nó có những hình thức hoàn toàn khác nhau. Do đó, nó cũng có những nội dung hoàn toàn khác nhau” [70, tr.
Tư tưởng chính trị - đạo đức trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông cũng vậy, không chỉ là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử xã hội với nhiều biến động, mâu thuẫn ở Đại Việt thế kỷ XIV-XV, mà còn là kết tinh tài năng của Lê Thánh Tông trong sự chắt lọc, kế thừa những giá trị tư tưởng trong lịch sử, và được bồi đắp, bổ xung thêm những nhân tố mới, phù hợp với thời đại. Do vậy, nghiên cứu tư tưởng chính trị - đạo đức của Lê Thánh Tông không thể không tìm hiểu điều kiện lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị - đạo đức của ông. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XIV-XV với sự hình thành, phát triển tư tưởng chính trị - đạo đức trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông Theo V.I Lênin: “Chính trị là tham gia công việc Nhà nước, là chỉ đạo Nhà nước, là xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước” [80, tr. Do đó, tư tưởng chính trị là hệ thống các quan điểm của các giai cấp, các nhóm xã hội về thực tiễn chính trị, xoay quanh trục cơ bản nhất là vấn đề quyền lực, bao gồm cả việc giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực của nhà nước [108, tr.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Chức năng cơ bản của nó là đảm bảo năng lực hoạt động có tính chất lịch sử của xã hội, phối hợp lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, điều chỉnh về mặt xã hội những hành vi của cá nhân. Với tính cách là hình thái ý thức, đạo đức có mức độ hệ tư tưởng (những nguyên tắc, tiêu chuẩn, giá trị đạo đức, quy tắc hành vi) và mức độ tâm lý (những như cầu, tình cảm, phẩm chất đạo đức). Điều quyết định khả năng và đặc thù của việc điều chỉnh đạo đức là: sự quyết định khách quan hành động của con người có tính chất lựa chọn, chứ không phải là “cứng nhắc”, một chiều, nó cho phép cá nhân được lựa chọn tương đối tự do một “cách xử thế” nào đó trong từng trường hợp cụ thể, do đó làm nảy sinh tinh thần trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó, lòng mong muốn làm cho sự lựa chọn đó phù hợp với yêu cầu (tiêu chuẩn, giá trị,.
Đạo đức trong xã hội Việt Nam đó là sản phẩm của sự kết hợp tinh tế giữa giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và một phần giá trị của Nho giáo, Phật giáo. Đặc biệt là quan điểm “tam cương”, “ngũ thường” của Nho giáo. Do đó, tư tưởng đạo đức Việt Nam mang trong mình những nét đặc trưng riêng, được biểu hiện qua tính kế thừa, dung hợp; tính dân tộc và tính nhân dân; tính nhân văn sâu sắc. 13 Như vậy, chính trị và đạo đức, “xét về cơ sở và nội dung chủ yếu, thì đạo đức và pháp luật có những nhiệm vụ xã hội hoàn toàn giống nhau” [77, tr.
Điều đó có nghĩa là các tiêu chuẩn của đạo đức và các trừng phạt về mặt pháp luật đều có những kết quả giáo dục đạo đức to lớn, và việc điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người về mặt đạo đức lại có ảnh hưởng to lớn đến sự tuân thủ của con người đối với các quy định của pháp luật. Là một hiện tượng lịch sử - xã hội, tư tưởng chính trị - đạo đức xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước xuất hiện. Nó chính là sự phản ánh những quan hệ kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định; là sự kết tinh của tinh hoa đất nước, của dân tộc cũng như của cả thời đại họ với những dấu ấn đậm nét. Bởi vậy, để tìm hiểu điều kiện hình thành tư tưởng chính trị - đạo đức trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông, ta không thể không tìm hiểu điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội.
Trên cơ sở tiền đề đó đã nảy sinh tư tưởng chính trị - đạo đức của ông. Về chính trị, nhà Lê sơ được thành lập trong bối cảnh phức tạp, nhà Trần sau một thời gian dài phát triển thịnh trị, đến cuối thế kỷ XIV dần lâm vào khủng hoảng và sa sút. Triều Hồ thay thế triều Trần đã không phát huy được khối đoàn kết vững chắc giữa triều đình với quân đội và nhân dân nên đã nhanh chóng đi tới diệt vong; đất nước rơi vào tay ngoại bang. Nhà Minh với khẩu hiệu “phù Trần diệt Hồ” đã đưa quân vào xâm lược Việt Nam, nhanh chóng biến Đại Việt thành một quận của nhà Minh.
Hai mươi năm dưới ách thống trị của nhà Minh, nhân dân Đại Việt luôn vùng lên đấu tranh giành độc lập, chủ quyền cho dân tộc. Hai mươi năm “nếm mật nằm gai”, “hăng lòng quên bữa, ngẫm nghiền những sách lược thao”, Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh ra khỏi đất nước, giành độc lập dân tộc, chủ quyền cho đất nước. 14 Sau khi giành được độc lập, tưởng chừng như đất nước có thể được sống trong cảnh thái bình yên vui, không còn kẻ thù hung bạo, nhưng tình hình xẩy ra không như mọi người đương thời suy nghĩ và mong đợi. Nguy cơ bên ngoài tạm yên, mối họa bên trong bắt đầu âm ỷ.
Mối họa bên trong ấy bắt nguồn từ nguyên nhân là sự yếu kém của thiết chế chính trị đương thời. Nguyên nhân sâu xa, đó là yêu cầu thay đổi thiết chế chính trị phong kiến quý tộc Phật giáo đã lỗi thời của nhà Trần bằng thiết chế chính trị phong kiến quan liêu Khổng giáo - điều mà Hồ Quý Ly muốn làm nhưng chưa làm được. Cùng với nguyên nhân ấy là cuộc khủng hoảng cung đình từ những năm cuối trị vì của Lê Lợi - vua đầu tiên triều Lê năm (1428 - 1433). Nội bộ những năm đầu của triều Lê sơ luôn có mâu thuẫn, xã hội nảy sinh mầm mống của cuộc khủng hoảng trên các mặt của đời sống xã hội.
Tuy Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đã có những cải cách nhất định nhằm khắc phục những yếu kém, nhưng nền chính trị chưa đạt được kết quả mong muốn. Cuộc khủng hoảng cung đình trước tiên biểu hiện trong sai lầm nghiêm trọng của Lê Thái Tổ là: Nghi kỵ và sát hại công thần; thứ đến là sự tranh giành quyền lực, tranh giành ngôi báu của các Hoàng tử. Về Thái Tổ, Đại Việt sử ký toàn thư đã có lời bàn: “Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay, thi hành chính trị rất khả quan… cũng có thể là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém” [117, tr.
Khi Lê Lợi chết, Lê Thái Tông nối ngôi năm (1434 -1442) đã làm cho tình hình chính trị, xã hội lún sâu vào những cuộc rối ren, và mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt. Lê Thái Tông vốn dĩ độc tài và ưa nịnh, xung quanh ông là một lũ hoạn quan đầy mưu mô, xảo quyệt; quan tể phụ bất tài, nạn hối lộ công khai hoành hành nên việc hình ngục có nhiều oan trái, nhiều công trình thổ mộc để sức dân mệt mỏi, thuế má nặng nề, đời sống nhân dân túng thiếu. Lê Thái Tông đã tự “vấn mình” rằng: “Mấy năm nay, hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn xuất hiện. nhiều lần sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh.
Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai họa, nhất 15 định là có duyên trong đó. Có phải do trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ” [117, tr. Tính ưa nịnh cùng với độc tài đã đẩy các công thần, lão tướng những ai dám đứng ra can ngăn vua; làm trái lệnh vua đều bị giết chết hoặc bị mất chức, bị lưu đày đi nơi xa. Lê Thái Tông chết năm 1442, Bang Cơ lên ngôi năm (1442 - 1459) khi mới hai tuổi.
Vị vua với tuổi đời còn quá non nớt như vậy, đã không nhìn thấy được nguy cơ đối với xã tắc do vua cha gây dựng. Mọi công việc triều chính do Nguyễn Thị Anh - mẹ Bang Cơ và bè lũ nắm giữ. Nội tình đất nước đã nát nay lại còn nát hơn. Bài “Trung hưng ký” năm Quang Thuận viết về tình hình chính trị giai đoạn này rằng: “Nhân Tông lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua.
Thái hậu Nguyễn Thị (Anh) là gà mái gáy sớm. Đô đốc Lê Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh. Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê. Bọn họ ngoài lòng tham, khoác lác, hoành hành khắp cõi.
Kẻ thân yêu nắm quyền vị. Nạn hối lộ được công khai. Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn, người hiền từ phải bỏ cánh. Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trịnh Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc như đàn ong nổi dậy, như chó chuột nhe răng.
Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt được sáu loại súc vật. Chưởng binh Lê Diên, Lê Luyện thì mù tịt, chẳng sao hiểu được bốn mùa một năm. Bậc lương thần như Trịnh Khải, Khắc Phục thì kèm cựa mà giết đi. Người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa.