đặt vấn đề tội phạm hóa hành vi này trong khu vực tư. Các định nghĩa này vẫn chưa phản ánh đủ đặc điểm của tội đưa hối lộ trong xã hội hiện đại, khi rõ ràng loại tội phạm này có thé xảy ra trong khu vực tư. 10 Điểm chung của các định nghĩa cũng như trong hệ thông pháp luật hình sự Việt Nam là chủ thé của tội đưa hối lộ không yêu cau phải là chủ thé đặc biệt như tội nhận hối lộ. Bất cứ cá nhân nào khi muốn đạt được lợi ích của mình thông qua việc đem tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ quyền hạn đều có thé trở thành chủ thé của tội phạm đưa hối lộ.
Đó là lý do tội đưa hối lộ trong luật hình sự Việt Nam không được coi là tội phạm tham nhũng. Tuy nhiên, như đã nói ở trên về bản chất của hiện tượng đưa hỗi lộ dưới góc độ chính trị, thì việc chủ thể của tội đưa hối lộ là người có chức vụ quyền hạn hoàn toàn có thể xảy ra. Khoản § Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng có quy định hành vi “đưa hồi lộ được thực hiện bởi nguoi có chức vụ quyên hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tô chức, đơn vị hoặc cua địa phương vi vụ loi” thì được coi là hành vi tham nhũng và được xử lý theo quy định của Luật phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó, khi chủ thé là người đại diện cho pháp nhân thực hiện hành vi đưa hối lộ dé đem lại lợi ích cho pháp nhân, thì pháp nhân này cũng chưa được pháp luật Việt Nam ghi nhận là chủ thé của tội đưa hối lộ.
Van dé ở đây là lợi ich đạt được của người đưa hối lộ là không chính đáng. Để đạt được lợi ích ấy, thì tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác sẽ được “đưa” cho người có chức vụ quyền hạn là người nhận. Pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận hành vi “đưa” là hành vi duy nhất của tội đưa hối lộ, trong khi, có nhiều trường hợp, dé đạt được lợi ich của mình, người đưa hối lộ còn có thé “mời nhận hối lộ”, “hứa đưa hối lộ” với người có chức vụ quyền hạn và tính chất nguy hiểm của tội đưa hối lộ cũng sẽ được bộc lộ qua hai hành vi này. Sự phát triển của xã hội hiện nay đã không chỉ giới hạn “của hối lộ” chỉ là lợi ích vật chất.
“Những thứ như xe hơi, tiền mặt. đều có thé đưa cả người hối lộ và người nhận vào tù. Nhưng hối lộ tình dục - thực trạng đang phổ biến khắp châu A hiện nay là một cách hối lộ khó dé lại bằng chứng”[19]. “Thật ra 11 tham nhũng tinh dục, hối lộ tình dục tại Việt Nam, như một quan chức Ban Nội chính trung ương khăng định “chắc chăn có”.
Hối hộ tình dục có muôn hình vạn trạng. Người ta hối lộ tình dục để thăng quan tiến chức, lay danh hiệu (ví dụ danh hiệu người đẹp), lay hợp đồng kinh doanh hay đơn giản chỉ dé có một việc làm tốt” [29]. Đây được coi là một dạng lợi ích phi vật chất và do đó, nếu chỉ coi “của hồi lộ” là lợi ích vật chất thì việc không xử lý triệt để hiện tượng hối lộ là điều không tránh khỏi. Các hình thức đưa hối lộ cũng được dé cập trong hau hết các định nghĩa: “dưới bất kỳ hình thức nào” hoặc “trực tiếp hoặc qua trung gian”.
Có thê thay, không chỉ hành vi nhận hối lộ có mối quan hệ với hành vi đưa hối lộ mà hành vi môi giới hối lộ (trung gian) cũng được nhắc đến, thé hiện rõ hơn tính chất tiêu cực của hiện tượng đưa hối lộ. Đề có thé đưa ra được một định nghĩa bao hàm được các van đề trên, trước hết cần nêu lên một số đặc điểm của tội đưa hối lộ như sau: Thứ nhát, đưa hoi lộ là hành vi đưa, hứa đưa, mời nhận một lợi ích bat kỳ cho người có chức vụ, quyên hạn. Thứ hai, chủ thé của tội đưa hối lộ có thé là bất kỳ người nào, không phụ thuộc vào địa vị pháp lý của họ. Đây là đối tượng có nhu cầu giải quyết một việc nhất định và có thé được đáp ứng bởi việc trao đổi lợi ích bat hợp pháp với chủ thể có chức vụ, quyền hạn.
Thứ ba, người dua hối lộ nhận thức được về khả năng của người có chức vu, quyền hạn có thé giải quyết và đáp ứng được những lợi ích mà người đưa hỗi lộ mong muốn. Thr tw, hành vi đưa hỗi lộ nhằm mục đích tác động vào việc thực thi chức vụ quyền hạn của người khác để người này tìm cách đem lại lợi ích cho người đưa hôi lộ. 12 Trên cơ sở nghiên cứu về hiện tượng đưa hối lộ cũng như xem xét các đặc điểm pháp lý hình sự về tội đưa hối lộ, tác giả đưa ra một định nghĩa như sau: “Tội đưa hồi lộ là những hành vi đưa, mời nhận hoặc hứa đưa bat kỳ lợi ich nào dưới bat kỳ hình thức nào của cá nhân, tổ chức nào cho người có chức vu, quyền han tac động vào việc thực thi chức trách cua người có chức vụ quyên han đó một cách cô ý dé người đó làm hoặc không làm theo yêu cau của người dua.” Có thé thấy, định nghĩa trên phan nào đã bao hàm được những van dé chưa được bàn đến trong các quan điểm truyền thống về tội đưa hối lộ. Thi nhất, hành vi được mô tả trong định nghĩa không chỉ có hành vi “đưa” mà còn bao gồm cả hành vi “mời nhận” hoặc “hứa đưa”; thir hai, hành vi đưa hối lộ ở đây diễn ra cả trong khu vực công và khu vực tu; thir ba, “của hối lộ” được mở rộng ra với cả những lợi ích phi vật chất.
Với định nghĩa này, các dau hiệu pháp lý của tội đưa hối lộ như chủ thé, khách thé, hành vi khách quan, lỗi đều đã được thể hiện rõ. Trên đây là một số vấn đề lý luận về khái niệm tội đưa hối lộ, làm cơ sở nghiên cứu những phan sau của luận văn. Các luận điểm về tội đưa hối lộ A Dưới góc độ luật hình sự, những nội dung được quan tâm nghiên cứu nhất là những luận điểm về các yếu tố cầu thành tội đưa hối lộ, những luận điểm về “của hối lộ” và những luận điểm về đường lối xử lý tội phạm đưa hồi lộ. Những van dé đầu tiên có thé dé cập đến ở đây liên quan dé việc xác định khách thể của tội phạm đưa hối lộ.
Hành vi đưa hối lộ xâm phạm đến một loại khách thê đó là những quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động bình thường của cơ quan hoặc tô chức, qua đó làm giảm uy tin của các cơ quan, tổ chức này. Cụ thể hơn, hành vi đưa hối lộ là hành vi xâm phạm đến quy tắc 13 hành xử va uy tin của công chức, xâm phạm đến những chuẩn mực đạo đức của cá nhân người có chức vụ, quyền hạn. Pháp luật hình sự Việt Nam chỉ đề cập đến tội đưa hối lộ trong khu vực công, do đó, hành vi đưa hối lộ xâm phạm đến các quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động thực thi chức trách của người có chức vụ quyền hạn, tức là xâm phạm đến sự vận hành của bộ máy nhà nước. Chính vi thế, đối tượng tac động của tội đưa hối lộ thé hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội của tội phạm này, đó là hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ.
Thực tế, có nhiều quan điểm cho rằng đối tượng tác động của tội đưa hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn vì thông qua những người có chức vụ quyền hạn mà quyền lực được thực thi. Tuy nhiên, hành vi đưa hối lộ không tác động tới người đó với tư cách là con người — chủ thé của quan hệ xã hội, mà người đưa hối 16 đem “của hối 16” cho người có chức vụ quyền hạn, thông qua đó, hướng tới hoạt động thực thi chức trách của người có chức vụ quyền hạn nhằm làm biến đổi hoạt động này theo hướng có lợi cho họ. Do đó, đối tượng tác động của tội đưa hối lộ cần được hiểu là hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi đưa hối lộ một mặt tác động vào hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ quyên hạn, mặt khác làm biến dạng xử sự của người có chức vụ, quyền hạn.
Thông thường, sự biến dạng xử sự của người có chức vụ, quyền hạn có thể hiểu là xử sự theo chiều hướng xấu đi của người có chức vụ, quyền hạn. Đối với tội đưa hối lộ, hành vi phạm tội nhằm làm cho người có chức vụ quyền hạn xử sự theo hướng lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình dé làm sai chức trách nhằm thỏa mãn yêu cầu hoặc vì lợi ich của người đưa. Hoạt động thực thi công vụ của họ sẽ diễn ra theo chiều hướng trái pháp luật, lợi ích đem đến cho người đưa hối lộ cũng là lợi ích trái pháp luật. Có quan điểm đưa ra rằng “Lợi ích mà người đưa hối lộ đạt tới cũng khá đa dạng: có thể đó là lợi ích chính đáng, hợp pháp nhưng vì họ gặp khó khăn về thủ tục 14 hay bị sách nhiễu, gây khó dễ nên tìm cách “bôi trơn”.
Lúc này hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ quyền hạn sẽ vẫn diễn ra bình thường, họ sẽ vẫn làm đúng chức trách được giao. Vậy thì ở đây, người đưa hối lộ có phạm tội đưa hối lộ? Theo tác giả, người đưa hối lộ trong trường hợp này vẫn bị coi là tội phạm, hành vi đưa của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn với mục đích dé người này làm hay không làm một việc vì lợi ích của người đưa, xâm phạm đến những chuân mực dao đức chung của cá nhân người có chức vụ, quyền hạn và vẫn ảnh hưởng đến hoạt động thực thi công vụ nói chung của người có chức vụ quyền hạn, đến tính liêm chính và vô tư của hoạt động công vụ. Khi tìm hiểu tính chất của tội phạm hối lộ nói chung và tội đưa hối lộ nói riêng thì các quan điểm hiện nay vẫn chỉ coi riêng tội nhận hối lộ là hành vi tham nhũng, trong khi hối lộ liên quan đến hai bên: đưa và nhận.