Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RANH GIỚI GIỮA TOI PHAM VÀ CAC HANH VI KHÔNG PHAI LA TOI PHAM 1. KHAI NIEM, DAC DIEM CUA HANH VI PHAP LUAT 1. Khái niệm va đặc điểm của hành vi pháp luật Thông thường khi nói đến hành vi, người ta cho rằng, đó chính là hành dong cua con người được thể hiện ra bên ngoài mà bằng các giác quan chúng tạ có thé nhận biết được. Trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể thực hiện nhiều loại hoạt động khác nhau như an uống, tắm giặt, đọc sách hoặc các hoại dong vul chơi giải tí.
Khi nói đến những hành động như vậy, tức là chúng ta chi đơn thuần ghi nhận những sự việc xảy ra theo đấu hiệu bên ngoài cua chúng. Vấn đẻ là ở chỗ, ý nghĩa ở phương diện xã hội của các hành động do là ¡hư thế nào? C.Mác đã xác định những nhân tố làm nên ý nghĩa lịch sử - xã hội trong hành vi của con người như sau: Tiền dé đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền dé của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả nang sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử". Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy. Điểm thứ hai là bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được - dua tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra những như cầu mới này là hành vi lịch sử dau tiên.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã khẳng định rằng: hành vi luôn luôi phải là sự phản ánh moi quan hệ có ý thức giữa con người VOL Xa hội, với các pia UW của cuộc sống. Hoat động của con người bình thường luôn luôn là hoạt động có ý thức và ý chí, nhưng không phải ngay từ khi con người mới sinh ra đã có san, mà phải trải qua quá trình sống và tự ý thức mới hình thành nên trong con người những phẩm chất nhất định về tâm lý và đạo due và dần dan đưa con người đến những hành vi có ý nghĩa xã hội. Như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh rằng: Tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ, con người khi hành động không phải nhắm mắt thụ động, để mặc cho hoàn cảnh khách quan dưa đẩy mà biết lựa chọn phương pháp để thực hiện. Bởi vì "Con người có một lịch sử, vì họ phải sản xuất ra đời sống của họ và hơn nữa lại phải sản xuất ra đời sông của họ theo một phương thức nhất định.
Đó là do tổ chức thể xác của họ quy định; ý thức của họ cũng bị quy định giống như vay" [37, tr. Mat khác, quá trình sống trong xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cho mình những hành vi phù hợp với những khuôn mẫu, chuẩn mực được thừa nhận trong xã hội. Chính điều đó đem lại định hướng hoạt động cho sự giao tiếp của cá nhân, hình thành vai trò xã hội của cá nhân và đem lại cho họ mục dích sống cụ thể. Tuy nhiên trong cùng một điều kiện khách quan giống nhau nhưng ở mỗi người khác nhau lại có cách xử sự riêng.
Do đó cũng cho thấy rằng, không thể nói đến hành vi của con người khi không dé cập đến ý thức và ý nghĩa xã hội của hành vi. Hoạt động và cuộc sống của con người bao giờ cũng được điều chỉnh bởi các quy ước xã hội. Những hành vi xử sự của con người trong một lĩnh vực hoạt động nào đó có thể rất khác nhau, nhưng vì hành vi của con người là sản phẩm của hoạt động nhận thức (có ý chí và lý trí) nên con người có thể ý thức dược việc mình làm và có thể điều khiển những hành vi của mình cho phù hợp với quy tắc xử sự chung. Những quy tắc xử sự chung được đặt ra để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người và được sử dụng nhiều lần trong cuộc song được pọi là những quy phạm xã hội.
Trong xã hội thường có rất nhiều các loại quy phạm để diều chỉnh hành vi con người buộc mọi người phải tuân theo trong những điều kiện hoàn cánh nhất định. Các quy phạm đó thường là: quy phạm dao đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm (Điều lệ) của các tổ chức xã hoi, quy phạm pháp luật. Tương ứng với mỗi lĩnh vực được điều chỉnh bởi một trong các quy phạm mà hành vi được thể hiện gọi là: hành vi đạo đức, hành vi ton giáo, hành vị pháp luật. Trong gia đình thì quy phạm đạo đức điều chính dong vai trò quan trọng nhưng trong lĩnh vực xã hội thì quy phạm của các tổ chức và pháp luật lại chiếm vai trò ưu thế.
Như vậy, khi xem xét một "biểu hiện" (có thể là hành động hoặc không hành dong) được gọi là hành vi khi "biểu hiện" đó được ý thức kiểm soát và ý chí dieu khiển. Một "biểu hiện" của con người ra bên ngoài thế giới khách quan sé không được coi là hành vi, nếu “biểu hiện" đó không được ý thức kim soát hoặc không phải là kết qua hoại động của ý chí. Những "biểu hiện" du có thể là những "biểu hiện" không có chủ định hoặc của người mắc bệnh tam thần. Khi xem xét một "biểu hiện" có ý nghĩa hành vi phải xem xét đến phương diện xã hội của "biểu hiện" đó.
Có nghĩa là xem xét hành vi trong những diều kiện hoàn cảnh nhất định để xem hành vi đó có phù hợp với các chuẩn mực xã hội hay không mà đánh giá là đạo đức hoặc vô đạo đức, là hợp pháp hay không hợp pháp. Chẳng hạn, đánh giá về mặt đạo đức một người đã si dụng thời gian rỗi của mình vào việc vui chơi giải tri tuy biết một bạn đồng nghiệp của mình trong thời điểm này dang bị bệnh hiểm nghèo mà không đến thám là hành vi vô đạo đức. Hoặc là, ở góc độ pháp luật thì việc những người đi du lịch có dập tắt đống lửa mà họ đã nhóm lên để sưởi ấm hoặc đun nấu không phải là vấn đề đáng quan tâm, cái chính là đo họ không đập tắt đống lửa làm lây lan dẫn đến cháy rừng (103, tr. Hành vi phải có sự kiểm soát của ý thức con người và chịu sự điều chính của các quy phạm xã hội, ví dụ: đi lại một minh là một hoạt động bình thường của con người, nhưng nếu hành vi đó tham gia quá trình giao thông 9 trên đường thì phải tuân theo những quy định của luật giao thông.
Do vay, Khong phải mot hành vi cá nhân đều mang tính xã hội. Hanh vi cá nhân chỉ trở thành hành vi xã hội Khi hành vi dé có ảnh hưởng đến người khác, một nhóm xã hội nhất định hay ca xã hội nói chung. Các nhà xã hội học đã chỉ ra rằng, mỗi hành vi xã hội là một tổng thể bao gồm các cơ cấu nội tại của nó. Đó là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mat chú quan.
Mat khách quan là những biểu hiện cu thể bên ngoài mà cá nhân thực hiện bao gồm cả cách thức, những biện pháp được áp dụng và những kết qua đạt được. Mat chủ quan của hành vi là mặt bên trong bao gồm vác yeu tố nhận thức, động cơ, mục đích. Thoạt nhìn, có thể tưởng lầm rằng cách thức hành động phụ thuộc vào y chí tự do của con người và là không hạn chế. Trên thực tế không phải là như vay, bởi vì tự do của con người phải được đặt trong khuôn khổ nhất định, đó là tự đo trong sự quy định của xã hội.
Mỗi người khi hành động để đạt được điều minh mong muốn đều phải ý thức được rằng cái gì sẽ xảy ra nếu cách xử sự của mình vượt ra ngoài những chuẩn mực được xã hội quy định. Các nhóm xã hội nói riêng và xã hội nói chung đều quan tâm đến việc duy trì các quan hệ vốn có của nó bằng những quy tắc nhất định nhằm tránh cho nhóm xã hội khỏi tan vỡ và theo đó mà xác lập cơ chế kiểm soát hành vi. Những hành vi không tuân theo hình mẫu chung có thể bị xã hội trừng phạt tùy theo mức độ vi phạm. Trừng phạt là một trong những yếu tố của sự kiểm soát xã hội.
Sự kiểm soát xã hội được hiểu là hệ thống những cách thức, biện pháp thuyết phục, cam đoán và trừng phạt; là hệ thống biện pháp công nhận, nêu uương và khen thưởng. Nhờ đó hành vi của cá nhân được hướng dẫn trở nên phù hợp với những hình mau xử sự chung. Có thể nhận thấy sự kiểm soát xã hội được thực hiện nhiều dạng, nhiều vẻ như: trừng phạt, khuyến khích, khen thưởng với mục dich bảo đảm hành vị 10 xử sự của cá nhân phù hợp với những quy tắc xử sự và hệ thống giá wi của xã hội, có tính đến chức nang hoạt động ổn định và hài hòa của xã hội như một hệ thong tự điều chỉnh. Điều này cũng có nghĩa là chính sự kiểm soát xã hội đã hình thành nên sự tuân thủ quy phạm xã hội của cá nhân hoặc của nhóm người.
Những quy tắc xử sự được quy định bởi những điều kiện và yêu cầu chung của xã hội. Các nhà xã hội học đã chứng minh được rằng những quy tắc ay mang tính khách quan mà con người cần phải tuân theo. Khi những quy tac ay bị con người vi phạm thi quá trình tan rã của tổ chức xã hội bắt đầu xuất hiện. Những quy tắc xử sự trong hệ thống kiểm soát xã hội điều chỉnh hành vị của con người thường xảy ra trong các lĩnh vực sau: hành vi của cá nhân trong quan hệ với những người khác; hành vi của cá nhân trong quan hệ với xã hội, hành vi của cá nhân trong quan hệ với chính mình.
Mỗi cá nhân có một không gian hoạt động riêng, được xác định và không gian ấy rộng hay hẹp tùy theo hình thái tổ chức của xã hội, mật độ của nhóm, tính chất những chế định của nó và vj trí của cá nhân trong nhóm. Ngay cả vẻ bề ngoài của cá nhân, ví dụ cách di lại, ăn uống, thời trang quần áo cũng có sự đánh giá, kiểm soát của xa hội; các quan hệ giữa bố me va con cát, sự tan vỡ thực tế của quan hệ vợ chồng.