Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Quang Huy thực hiện năm 2002 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Xuân Yêm và TS. Phạm Hồng Hải, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 5.05.14). Công trình có dung lượng 176 trang phần nội dung chính, kết cấu gồm 3 chương và 10 mục.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật hình sự phải xác định rõ ranh giới giữa hành vi bị coi là tội phạm và hành vi không phải là tội phạm. Đây là cơ sở then chốt nhằm bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, tránh làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 ra đời trong thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp nên các quy định phân định còn mang tính khái quát, bộc lộ nhiều hạn chế. BLHS năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2000) đã tạo bước chuyển biến lớn nhưng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc về mặt lập pháp lẫn áp dụng thực tiễn. Trong thực tế, một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát viên và thẩm phán nhận thức chưa đầy đủ, thiếu thống nhất về ranh giới pháp lý này, dẫn đến sai sót trong xử lý vụ án hình sự; đồng thời nhận thức của người dân về các hành vi được pháp luật bảo vệ (như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết) còn hạn chế.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định ranh giới giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, cũng như giữa tội phạm và các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản gồm:
- Nghiên cứu các quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về các yếu tố làm ranh giới giữa tội phạm và không phải là tội phạm.
- Khảo sát thực trạng việc xác định các yếu tố làm ranh giới giữa tội phạm và không phải là tội phạm trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta hiện nay.
- Tham khảo các tài liệu về pháp luật hình sự nước ngoài về vấn đề này.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật khác và các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các vấn đề lý luận và thực tiễn về ranh giới cùng các yếu tố phân định tại Việt Nam; tác giả không đi sâu vào ranh giới của từng tội phạm cụ thể với các vi phạm khác và không nghiên cứu lịch sử lập pháp của vấn đề.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học pháp lý trong nước có liên quan trực tiếp đến từng khía cạnh phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật:
- Về phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm: Đề tài nghiên cứu "Cưỡng chế hành chính Nhà nước" của tập thể tác giả Học viện Hành chính Quốc gia (Hà Nội, 1999); luận án Phó tiến sĩ Luật học "Chế tài hành chính - lý luận và thực tiễn" của tác giả Vũ Thư (Hà Nội, 1999); công trình nghiên cứu "Phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật trong Bộ luật hình sự năm 1999" của tập thể tác giả Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000).
- Về các công trình nghiên cứu lý luận chung: Các tác phẩm do GS. TSKH. Đào Trí Úc chủ biên tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật gồm "Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam" (1993), "Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (1994), và "Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay" (1994).
- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các chế định loại trừ tính chất tội phạm như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết của các tác giả trong ngành luật hình sự.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận vấn đề ở phạm vi hẹp (phân biệt giữa tội phạm với một dạng vi phạm cụ thể như vi phạm hành chính, hoặc khảo sát riêng lẻ từng chế định loại trừ) hoặc chỉ dừng lại ở mức độ khái quát định hướng. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các yếu tố làm ranh giới giữa tội phạm và các hành vi không phải là tội phạm dưới cả hai góc độ: hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, cùng các học thuyết pháp lý, chính trị về tội phạm và hành vi pháp luật. Tác giả vận dụng các quan điểm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin và Montesquieu (Môngtexkiơ) về bản chất xã hội của hành vi con người và nguyên tắc pháp quyền ("chỉ trừng phạt hành vi bên ngoài", "không có tội phạm và không có hình phạt nếu không có luật" - Nullum crimen, nulla poena sine lege). Đồng thời, luận án tham khảo nhận định tội phạm học của Edwin Schur (Shur) về mối liên hệ giữa điều kiện kinh tế - xã hội và vi phạm pháp luật, cùng các luận điểm của các nhà luật học Việt Nam như GS. TSKH. Đào Trí Úc và TSKH. Lê Cảm.
Phương pháp luận chỉ đạo công trình là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả kết hợp bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử và phương pháp khảo sát thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
Nguồn tư liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu gồm: Hiến pháp năm 1992, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Công an (BCA), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), cùng hệ thống báo cáo thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
| Phương diện phân tích |
Căn cứ lý thuyết và pháp lý |
Nguồn dữ liệu / Phương pháp thực tế |
| Bản chất hành vi pháp luật |
Triết học Mác - Lênin, Xã hội học pháp luật |
Phân tích khái niệm, dấu hiệu tâm lý và ý nghĩa xã hội |
| Phân loại hành vi vi phạm |
Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật |
Phân loại vi phạm hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật |
| Khái niệm tội phạm |
Khoản 1 Điều 8 BLHS 1999; luật học so sánh tư sản và XHCN |
Phân tích 4 dấu hiệu cấu thành tội phạm và dấu hiệu hình phạt |
| Cơ chế sai lệch hành vi |
Tội phạm học (E. Schur, GS. Đào Trí Úc) |
Phân loại 4 trường hợp biến dạng chuỗi nhân quả hành vi |
| Thực trạng áp dụng pháp luật |
Báo cáo, số liệu từ BCA, VKSNDTC, TANDTC |
Phương pháp khảo sát, tổng hợp thực tiễn tư pháp |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về ranh giới giữa tội phạm và các hành vi không phải là tội phạm
Chương này tập trung xây dựng khung lý luận nền tảng về hành vi pháp luật, hành vi hợp pháp, hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm và ranh giới giữa chúng.
Về hành vi pháp luật và hành vi hợp pháp luật: Tác giả luận giải hành vi con người chỉ trở thành hành vi pháp luật khi có ý nghĩa xã hội, được kiểm soát bằng lý trí và ý chí, được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật, chịu sự kiểm soát của Nhà nước và phát sinh hậu quả pháp lý. Hành vi hợp pháp luật thể hiện dưới 3 hình thức:
- Tuân thủ pháp luật: Chủ thể kiềm chế không thực hiện những điều pháp luật cấm (ví dụ: không trộm cắp tài sản dù hoàn cảnh khó khăn).
- Chấp hành pháp luật: Chủ thể tự giác thực hiện các nghĩa vụ tích cực do pháp luật quy định (ví dụ: tự giác nộp thuế, đăng ký nghĩa vụ quân sự).
- Sử dụng pháp luật: Chủ thể thực hiện các quyền mà pháp luật trao cho theo ý chí cá nhân (ví dụ: thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo).
Về hành vi vi phạm pháp luật: Tác giả định nghĩa vi phạm pháp luật là hành vi lệch chuẩn xã hội do người có năng lực hành vi thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ, là cơ sở của trách nhiệm pháp lý. Chuỗi nhân quả hình thành vi phạm pháp luật gồm: Nhu cầu và lợi ích $\rightarrow$ Động cơ $\rightarrow$ Lựa chọn mục đích và phương tiện $\rightarrow$ Đánh giá tình huống $\rightarrow$ Ra quyết định $\rightarrow$ Xử sự. Tác giả khái quát 4 trường hợp biến dạng chuỗi nhân quả:
- Nhu cầu và lợi ích bị méo mó (thường gặp trong xâm phạm tài sản, nhân thân).
- Xung đột giữa nhu cầu bình thường và khả năng đáp ứng hợp pháp (gây rối trật tự, côn đồ; thường có yếu tố lỗi của người bị hại).
- Thoái hóa định hướng giá trị (chủ thể có khả năng hành động hợp pháp nhưng vẫn chọn cách chống đối pháp luật; đặc trưng ở người phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm).
- Sai lệch trong giai đoạn ra quyết định (do tình thế căng thẳng, nhận định sai hoàn cảnh, mất kiềm chế; dẫn đến hành vi vượt quá mức cho phép hoặc cố ý).
Tác giả phân biệt 3 loại vi phạm ngoài hình sự: vi phạm hành chính (xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước nhưng tính chất nguy hiểm không đáng kể), vi phạm kỷ luật (xâm phạm kỷ luật lao động, công vụ, học tập, quân sự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang) và vi phạm dân sự (xâm phạm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân).
Về khái niệm và đặc điểm của tội phạm: Luận án phân tích khái niệm tội phạm qua các trường phái tư sản (hình thức và vật chất) và xã hội chủ nghĩa. Đối với quy định tại Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999, tác giả đề xuất định nghĩa đầy đủ hơn: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ và phải chịu hình phạt."
Bốn đặc điểm cơ bản của tội phạm được phân tích:
- Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Là dấu hiệu nội dung, thuộc tính khách quan quyết định bản chất chính trị - xã hội của tội phạm. Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại cùng tính chất (đặc tính về chất) và mức độ (đặc tính về lượng, như tỷ lệ thương tật %, giá trị tài sản thiệt hại) của hậu quả.
- Tính trái pháp luật hình sự: Là dấu hiệu hình thức thể hiện nội dung nguy hiểm cho xã hội. BLHS là văn bản duy nhất quy định tội phạm và hình phạt; tác giả bác bỏ quan điểm cho phép quy định tội phạm ở các văn bản dưới luật.
- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện: Dựa trên cơ sở tự do ý chí; người mất khả năng nhận thức/điều khiển hành vi hoặc chưa đủ tuổi luật định (dưới 14 tuổi) không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Tính có lỗi: Gồm lỗi cố ý (trực tiếp, gián tiếp) và lỗi vô ý (vì quá tự tin, vì cẩu thả).
Tác giả thảo luận về tranh luận lý luận giữa TSKH. Lê Cảm (cho rằng tính trái pháp luật hình sự là tiêu chí phân biệt chủ yếu và quan trọng nhất) và GS. TSKH. Đào Trí Úc (cho rằng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là cơ sở quan trọng nhất). Tác giả khẳng định hai dấu hiệu này có mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức.
Chương 2: Những yếu tố làm ranh giới giữa tội phạm và hành vi không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống các yếu tố cấu thành ranh giới phân định trong cả hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật:
- Trong hoạt động ban hành pháp luật hình sự (Mục 2.1): Nhà làm luật sử dụng các yếu tố thuộc 4 yếu tố cấu thành tội phạm để vạch ranh giới:
- Khách thể: Tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại (an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe, sở hữu).
- Mặt khách quan: Tính chất hành vi, phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội; mức độ thiệt hại (định lượng giá trị tài sản, tỷ lệ thương tật); tình tiết nhân thân hoặc tiền sự (đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm).
- Mặt chủ quan: Hình thức lỗi (cố ý hay vô ý), động cơ và mục đích phạm tội.
- Chủ thể: Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự.
- Trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (Mục 2.2): Phân tích quá trình điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đánh giá, đối chiếu hành vi thực tế với cấu thành tội phạm nhằm phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính, vi phạm dân sự (đặc biệt trong các quan hệ kinh tế, hợp đồng) và vi phạm kỷ luật.
- Trong các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (Mục 2.3): Phân tích ranh giới giữa tội phạm và các hành vi gây thiệt hại nhưng hợp pháp hoặc không có lỗi:
- Sự kiện bất ngờ: Người thực hiện hành vi không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả.
- Phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Phân định ranh giới giữa hành vi chống trả cần thiết để bảo vệ lợi ích hợp pháp với hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết cấu thành tội phạm.
- Tình thế cấp thiết và vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết: Ranh giới giữa việc gây thiệt hại nhỏ hơn để ngăn chặn thiệt hại lớn hơn với việc gây thiệt hại quá mức cần thiết.
Chương 3: Những giải pháp góp phần xác định ranh giới giữa tội phạm và không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Chương 3 tổng kết thực tiễn và đưa ra các nhóm giải pháp cụ thể:
- Thực tiễn nhận thức và xử lý (Mục 3.1): Đánh giá thực trạng sai lệch trong nhận thức ranh giới giữa tội phạm và các vi phạm khác của các cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế hoặc ngược lại, bỏ lọt tội phạm do nhận thức chưa chuẩn xác về dấu hiệu cấu thành.
- Giải pháp trong hoạt động ban hành pháp luật (Mục 3.2): Đề xuất sửa đổi, bổ sung, giải thích cụ thể các dấu hiệu định lượng, định tính trong các điều luật của BLHS năm 1999; hoàn thiện các khái niệm về mức độ thiệt hại "nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng", giá trị tài sản chiếm đoạt; chuẩn hóa quy định về các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm.
- Giải pháp trong thực tiễn áp dụng pháp luật (Mục 3.3): Tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và VKSNDTC; nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán; bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu hai đóng góp khoa học chính:
- Về mặt lý luận và lập pháp: Luận án đã xác định và hệ thống hóa một cách toàn diện các yếu tố làm ranh giới giữa tội phạm và các hành vi không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm ranh giới với các hành vi vi phạm pháp luật khác (hành chính, dân sự, kỷ luật) và với các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết) trên cả phương diện lập pháp và áp dụng pháp luật. Tác giả luận giải bổ sung dấu hiệu "phải chịu hình phạt" vào khái niệm tội phạm để phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý - chính trị của tội phạm.
- Về mặt thực tiễn và giải pháp: Luận án đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự (BLHS năm 1999) và nâng cao hiệu quả nhận thức, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) nhằm khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, tránh hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, như chính tác giả đã xác định trong phạm vi nghiên cứu:
- Luận án tập trung vào các vấn đề lý luận chung và hệ thống hóa các yếu tố làm ranh giới phổ quát, không đi sâu phân tích ranh giới cụ thể của từng tội phạm riêng biệt trong Phần các tội phạm của BLHS với các vi phạm pháp luật khác tương ứng.
- Công trình không nghiên cứu toàn diện lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về vấn đề ranh giới qua các thời kỳ lịch sử trước đó mà tập trung chủ yếu vào giai đoạn BLHS 1985 và BLHS 1999.
Hướng nghiên cứu tiếp xuất phát từ phạm vi trên gồm: Đi sâu nghiên cứu ranh giới phân định đối với từng nhóm tội phạm cụ thể (như nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nhóm tội phạm về chức vụ) với vi phạm hành chính và tranh chấp dân sự; nghiên cứu so sánh lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Sử dụng Chương 1 và Chương 2 làm tài liệu tham khảo cho các học phần Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung và Phần các tội phạm), Tội phạm học.
- Cơ quan lập pháp và cơ quan giải thích pháp luật (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, TANDTC, VKSNDTC): Tham khảo các đề xuất tại Mục 3.2 để sửa đổi, bổ sung BLHS và ban hành các Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các dấu hiệu định lượng, tình tiết định tội.
- Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư): Tham khảo Mục 2.2 và Mục 3.3 để nâng cao kỹ năng đánh giá chứng cứ, xác định đúng dấu hiệu cấu thành tội phạm, phân biệt tội phạm với quan hệ dân sự, kinh tế và vi phạm hành chính, đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm tội phạm được tác giả định nghĩa lại như thế nào so với Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999?
Trả lời: Tác giả đề xuất định nghĩa đầy đủ gồm 5 dấu hiệu: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ và phải chịu hình phạt. Tác giả bổ sung rõ dấu hiệu "phải chịu hình phạt" để thể hiện hậu quả pháp lý nghiêm khắc nhất mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước.
2. Tiêu chí nào là quan trọng nhất để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác theo luận án?
Trả lời: Tác giả luận giải rằng tính nguy hiểm cho xã hội (nội dung) và tính trái pháp luật hình sự (hình thức) có quan hệ thống nhất biện chứng. Tiêu chí đầu tiên để nhà làm luật quy định một hành vi là tội phạm là tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội; tuy nhiên về mặt pháp lý, hành vi chỉ là tội phạm khi được quy định trong BLHS (Nullum crimen sine lege). Khi các vi phạm khác có dấu hiệu bề ngoài tương tự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là yếu tố quyết định để phân biệt.
3. Tác giả chỉ ra 4 trường hợp biến dạng nào trong chuỗi nhân quả của hành vi vi phạm pháp luật?
Trả lời: Bốn trường hợp biến dạng gồm: (1) Nhu cầu và lợi ích bị méo mó (xâm phạm tài sản, nhân thân); (2) Xung đột giữa nhu cầu bình thường và khả năng đáp ứng hợp pháp (hành vi côn đồ, gây rối); (3) Thoái hóa định hướng giá trị (chọn con đường chống đối dù có thể thực hiện hợp pháp, gặp ở người phạm tội nhiều lần/tái phạm); (4) Thoái hóa ở giai đoạn ra quyết định (do căng thẳng, nhận định sai hoàn cảnh, thiếu kiềm chế dẫn đến hành vi quá mức cho phép).
4. Hành vi hợp pháp luật được phân chia thành những hình thức thực hiện nào?
Trả lời: Gồm 3 hình thức: Tuân thủ pháp luật (kiềm chế không làm điều luật cấm), Chấp hành pháp luật (tự giác thực hiện nghĩa vụ luật định), và Sử dụng pháp luật (thực hiện quyền chủ thể theo ý chí cá nhân mà không bị ép buộc).
5. Vì sao cơ quan nhà nước và công dân có nguyên tắc xử sự khác nhau khi xác định tính hợp pháp của hành vi?
Trả lời: Dựa trên nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Công dân có quyền làm tất cả những gì luật không cấm (được bảo đảm bằng nguyên tắc suy đoán tính hợp pháp của hành vi và suy đoán vô tội); trong khi đó cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật quy định trong phạm vi chức năng, thẩm quyền được giao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quang Huy là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về ranh giới giữa tội phạm và các hành vi không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam tại thời điểm ban hành BLHS năm 1999. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hành vi pháp luật, các dạng vi phạm pháp luật và tội phạm, đồng thời phân tích cụ thể các yếu tố phân định ranh giới trong hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật. Các phát hiện và giải pháp mà tác giả đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng tại Việt Nam.