Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế—đặc biệt là dấu mốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 cùng việc ký kết nhiều điều ước quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và tội phạm, đặc biệt là quốc nạn tham nhũng, hối lộ. Hành vi đưa hối lộ diễn ra ở nhiều lĩnh vực đời sống, từ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đến các lĩnh vực y tế, giáo dục. Đáng chú ý, sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện cho các đối tượng áp dụng nhiều phương thức tinh vi nhằm che giấu hành vi phạm pháp, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản. Đưa hối lộ làm biến chất đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào bộ máy công quyền; đồng thời tạo điều kiện cho các loại tội phạm khác nảy sinh.

Nhận thức rõ nguy cơ đó, Đảng và Nhà nước đã thể hiện quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ qua việc ký kết Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) ngày 10/12/2003, ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2012 và thay thế năm 2018), cùng việc liên tục hoàn thiện quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) các năm 1985, 1999 và 2015. Nhằm giải quyết các vướng mắc lý luận và thực tiễn, đề tài "Tội đưa hối lộ trong Bộ luật Hình sự năm 2015" được thực hiện.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội đưa hối lộ; phân tích thực tiễn áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án hiện nay; từ đó chỉ ra bất cập và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học, làm rõ những vấn đề lý luận chung về tội đưa hối lộ.
  2. Phân tích làm sáng tỏ quy định về tội đưa hối lộ trong BLHS Việt Nam năm 2015.
  3. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội đưa hối lộ tại Việt Nam hiện nay, nêu lên những bất cập còn tồn tại và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định trong BLHS.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào các quan điểm khoa học, quy định pháp luật hiện hành về tội đưa hối lộ, pháp luật quốc tế tiêu biểu về phòng chống tham nhũng, hối lộ, và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các quy định hiện hành về tội đưa hối lộ trong BLHS năm 2015 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật và văn bản quy phạm pháp luật đa dạng:

  • Khái niệm và thuật ngữ: Tác giả đối chiếu khái niệm Bribery trong từ điển pháp lý Black's Law Dictionary, Từ điển Cambridge, định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý), Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê), và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Khung pháp lý quốc tế: Khóa luận sử dụng Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC 2003, trọng tâm là Điều 15 và Điều 21), Công ước của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế về chống hối lộ công chức nước ngoài trong các giao dịch thương mại quốc tế (OECD), và Công ước Luật hình sự về chống tham nhũng của Hội đồng Châu Âu (COE).
  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Văn bản lịch sử phong kiến (Bộ luật Hình thư thời Lý, Quốc triều Hình luật thời Lê, Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn); các văn bản thời kỳ hiện đại (Sắc lệnh số 47-SL, Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946, Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/5/1981, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 - đặc biệt là Điều 364, Điều 354, Điều 365, Điều 12, Điều 17, Điều 29, Điều 352); Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; cùng hệ thống các văn bản như Luật Phòng, chống tham nhũng (2005, 2018), Luật Cán bộ, công chức (2008), Luật Viên chức (2010), Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (2005, 2013).
  • Kế thừa các công trình khoa học: Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Lệ Thu (2011), Luận án tiến sĩ của Vũ Việt Tường (2022), luận văn thạc sĩ của Tạ Hồng Quỳnh, Bùi Dương Thúy, các bài báo chuyên ngành của Đinh Chiến (2019), Trịnh Tiến Việt (2008), Trần Thị Ngọc Kim (2021), Nhiếp Vũ Hiên (2014).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp so sánh luật học: Dùng để đối chiếu quan điểm lập pháp giữa Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế, cũng như tiến trình lập pháp qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp tiếp cận quy phạm: Được vận dụng xuyên suốt để phân tích các quy phạm pháp luật hình sự thực định và các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: các văn bản luật thực định; báo cáo tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012–2022; báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) giai đoạn 2016–2022; Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI); cùng hồ sơ, bản án hình sự thực tế (như Bản án số 37/2022/HS-ST của TAND TP. Cà Mau và các đại án kinh tế - chức vụ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về tội đưa hối lộ

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất lý luận, chuẩn mực quốc tế và lịch sử lập pháp về tội đưa hối lộ:

  • Khái niệm và bản chất: Tác giả phân tích hành vi đưa hối lộ dưới ba góc độ: chính trị (sự trao đổi giữa quyền lực và tiền của, gây ra hiện tượng "chạy chức, chạy quyền"), xã hội (sự biến tướng tiêu cực của văn hóa trả ơn, quà biếu), và pháp lý (tội phạm về chức vụ xâm hại hoạt động công vụ). Khóa luận đưa ra định nghĩa: "Tội đưa hối lộ là hành vi đưa, hứa hoặc mời nhận lợi ích không chính đáng dưới bất kì hình thức nào của bất cứ cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hình sự cho người có chức vụ, quyền hạn để làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu hoặc có lợi cho người đưa hối lộ".
  • Quan điểm lập pháp quốc tế: Theo Điều 15 và Điều 21 của Công ước UNCAC 2003, hành vi đưa hối lộ được quy định dưới dạng cấu thành hình thức bao gồm các hành vi hứa hẹn, chào mời hoặc cho lợi ích không chính đáng (trực tiếp hoặc gián tiếp) trong cả khu vực công và khu vực tư. Lợi ích hối lộ bao gồm cả lợi ích hữu hình lẫn vô hình. UNCAC mở rộng chủ thể đến pháp nhân và không đòi hỏi dấu hiệu hậu quả thực tế.
  • Tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam:
    • Thời kỳ phong kiến: Hình thư thời Lý (1042, 1044) xử phạt nghiêm minh việc nhận hối lộ, ăn chặn tài sản công; Quốc triều Hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức, Điều 137, 140) quy định rõ tội đưa hối lộ và phân hóa trách nhiệm tùy tính chất vụ việc (kẻ bị oan uổng đưa hối lộ được giảm tội, kẻ cầu cạnh việc phi pháp bị xử nặng); Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn (Bộ luật Gia Long) dành 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, áp dụng hình phạt trượng hoặc trảm giam hậu.
    • Giai đoạn 1945–1985: Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 quy định rõ hình phạt phạt khổ sai, phạt bạc, tịch thu gia sản đối với tội hối lộ, đồng thời quy định miễn tội và trả lại tang vật cho người bị cưỡng bức tự ý cáo giác; Pháp lệnh ngày 20/5/1981 quy định chung tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ trong cùng một điều luật.
    • Giai đoạn từ 1985 đến nay: BLHS năm 1985 quy định tội đưa hối lộ tại Điều 227 (ghép chung với tội môi giới hối lộ); BLHS năm 1999 (Điều 289) tách thành tội danh độc lập, bổ sung dấu hiệu định lượng giá trị vật chất (từ 500.000 đồng); BLHS năm 2015 tiếp tục hoàn thiện, mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực tư và bổ sung lợi ích phi vật chất.

Chương 2: Quy định về tội đưa hối lộ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015

Chương 2 phân tích chuyên sâu các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 BLHS năm 2015:

  • Dấu hiệu pháp lý cấu thành:
    • Khách thể: Khách thể trực tiếp là hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức (cả cơ quan nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước). Đối tượng tác động là hoạt động công vụ của người có chức vụ, quyền hạn.
    • Mặt khách quan: Gồm hành vi "đã đưa" hoặc "sẽ đưa" trực tiếp hoặc qua trung gian lợi ích cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác, tổ chức khác. Đối tượng được đưa hối lộ theo Khoản 6 Điều 364 mở rộng đến công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế và người có chức vụ trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước. Lợi ích hối lộ gồm lợi ích vật chất (tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên) và lợi ích phi vật chất. Thủ đoạn phạm tội đa dạng như: tặng quà giá trị cao (ví dụ: vụ đánh bạc Phú Thọ tặng đồng hồ Rolex 7.000 USD, phần mềm 30.000 USD), chia nhỏ tài khoản và chuyển lòng vòng (ví dụ: vụ Việt Á chỉ đạo chi gần 800 tỷ đồng, dùng 2 hệ thống sổ sách), chuyển tiền qua kênh riêng (vụ buôn lậu xăng Phan Thanh Hữu), núp bóng giao dịch kinh tế dân sự.
    • Chủ thể: Bất kỳ cá nhân nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi trở lên; người từ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này theo Điều 12 BLHS). Trường hợp định khung tăng nặng đòi hỏi chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn khi "Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ" hoặc "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn".
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mong muốn người nhận thực hiện hoặc không thực hiện hành vi theo yêu cầu của mình.
  • Quy định miễn trách nhiệm hình sự (Khoản 7 Điều 364):
    • Người bị ép buộc đưa hối lộ: Nếu chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ tài sản đã dùng để đưa hối lộ.
    • Người không bị ép buộc đưa hối lộ: Nếu chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ tài sản (ví dụ: miễn trách nhiệm hình sự cho các đối tượng trong vụ buôn lậu 204 triệu lít xăng và vụ đánh bạc nghìn tỷ tại Phú Thọ khi tự thú).
  • Hệ thống hình phạt (Điều 364):
    • Khung 1 (Khoản 1 - cơ bản): Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (áp dụng khi của hối lộ trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc lợi ích phi vật chất).
    • Khung 2 (Khoản 2 - tăng nặng thứ nhất): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (các tình tiết: có tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt; dùng tài sản của Nhà nước; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội 02 lần trở lên; của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng).
    • Khung 3 (Khoản 3 - tăng nặng thứ hai): Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm (của hối lộ trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng).
    • Khung 4 (Khoản 4 - tăng nặng thứ ba): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (của hối lộ trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên). Bỏ hình phạt tù chung thân và tử hình so với BLHS 1999.
    • Hình phạt bổ sung (Khoản 5): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
  • Phân biệt với các tội phạm liên quan:
Tiêu chí Tội đưa hối lộ (Điều 364) Tội môi giới hối lộ (Điều 365) Tội nhận hối lộ (Điều 354)
Chủ thể Chủ thể thường (người từ đủ 16 tuổi có năng lực TNHS) Chủ thể thường (người từ đủ 16 tuổi có năng lực TNHS) Chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn)
Hành vi khách quan Đã đưa hoặc sẽ đưa lợi ích trực tiếp hoặc qua trung gian Làm trung gian kết nối, thực hiện yêu cầu của hai bên đưa - nhận Đã nhận hoặc sẽ nhận lợi ích trực tiếp hoặc qua trung gian
Vai trò / Mục đích Xuất phát từ lợi ích của chính mình hoặc người mà mình muốn giúp đỡ Làm cầu nối khách quan, không quyết định thay, không vì lợi ích của bản thân Nhằm mục đích vụ lợi (cho bản thân hoặc cho người/tổ chức khác)

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật đối với tội đưa hối lộ và một số kiến nghị

Chương 3 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra các nhóm giải pháp hoàn thiện:

  • Tình hình thực tế: Theo Báo cáo PCI 2022 của VCCI, 71,7% doanh nghiệp tham gia khảo sát thừa nhận việc gặp khó khăn khi giải quyết thủ tục do sự nhũng nhiễu của cán bộ, công chức; 54,5% doanh nghiệp phải chi trả các khoản chi phí không chính thức cho cán bộ thuế. Hiện tượng "phong bì", quà biếu nhằm hợp thức hóa hành vi đưa hối lộ vẫn diễn ra phổ biến.
  • Số liệu xét xử các vụ án chức vụ, tham nhũng:
    • Báo cáo 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng (2012–2022): Cơ quan tiến hành tố tụng cả nước khởi tố, điều tra 19.546 vụ / 33.868 bị can; truy tố 16.699 vụ / 33.037 bị can; xét xử sơ thẩm 15.857 vụ / 30.355 bị cáo về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Riêng tội phạm tham nhũng: khởi tố, điều tra 2.657 vụ / 5.841 bị can; truy tố 2.628 vụ / 6.199 bị can; xét xử sơ thẩm 2.439 vụ / 5.647 bị cáo.
    • Thống kê công tác Tòa án giai đoạn 2016–2022:
Giai đoạn / Năm Số vụ án đã xét xử Số bị cáo đã xét xử
2016 – 2020 7.143 13.600
2021 2.381 4.135
2022 2.638 5.588

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)

  • Về mức hình phạt đối với 645 bị cáo phạm tội tham nhũng được xét xử sơ thẩm: Tuyên phạt tù chung thân và tử hình đối với 08 bị cáo; phạt tù trên 15 năm đến 20 năm đối với 44 bị cáo; tù trên 7 năm đến 15 năm đối với 56 bị cáo.
  • Phân tích thực tiễn thông qua các đại án tiêu biểu: Vụ án MobiFone mua 95% cổ phần AVG (Phạm Nhật Vũ đưa hối lộ cho Trương Minh Tuấn 200.000 USD, Lê Nam Trà 2.500.000 USD, Cao Duy Hải 500.000 USD); vụ án Chuyến bay giải cứu (Lê Hồng Sơn và Nguyễn Thị Thanh Hằng đưa hối lộ 63 lần với hơn 38 tỷ đồng; Hoàng Diệu Mơ đưa 41 lần với 34,643 tỷ đồng; Lê Văn Nghĩa đưa 19 lần với 9,586 tỷ đồng; Đào Thị Chung Thúy đưa 6 lần với 3,321 tỷ đồng); vụ án Phan Văn Anh Vũ; vụ án VN Pharma; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Đinh La Thăng; vụ án gian lận thi cử năm 2018 tại Sơn La, Hà Giang.
  • Hệ thống kiến nghị của tác giả (Mục 3.2):
    1. Hoàn thiện quy định của pháp luật đối với tội đưa hối lộ: Tiếp tục cụ thể hóa các tiêu chí định lượng, hướng dẫn xử lý đối với "lợi ích phi vật chất" và nghiên cứu mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với hành vi hối lộ.
    2. Đưa ra các chính sách đổi mới: Đổi mới chính sách hình sự, hoàn thiện cơ chế bảo vệ và khuyến khích người tố giác tội phạm hối lộ, minh bạch hóa thủ tục hành chính để hạn chế tình trạng nhũng nhiễu.
    3. Nâng cao hiệu quả giải quyết đối với tội đưa hối lộ: Nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác thu thập, chứng minh chứng cứ (đặc biệt là chứng cứ điện tử, giao dịch ngân hàng phức tạp), tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác xét xử và thu hồi tài sản tham nhũng.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học và tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam từ thời phong kiến (triều Lý, Lê, Nguyễn) đến thời kỳ hiện đại; phân tích chi tiết cấu thành 4 yếu tố của tội đưa hối lộ theo Điều 364 BLHS năm 2015; tổng hợp và phân tích các số liệu thực tiễn từ Báo cáo 10 năm phòng chống tham nhũng (2012–2022), số liệu xét xử của TANDTC (2016–2022) và khảo sát doanh nghiệp của VCCI (2022).
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ: hoàn thiện quy phạm pháp luật hình sự thực định, đổi mới chính sách tư pháp và nâng cao năng lực thực thi, phát hiện, xử lý tội phạm đưa hối lộ.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Tác giả tự chỉ ra rằng phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây thường tiếp cận hối lộ nói chung như một hành vi tham nhũng tổng quát, xem đưa hối lộ chỉ là nội dung phụ trợ. Khóa luận này đã đi sâu nghiên cứu độc lập, chuyên biệt về các vấn đề pháp lý riêng của tội đưa hối lộ, gắn kết chặt chẽ quy định BLHS 2015 với các chuẩn mực của Công ước UNCAC và thực tiễn xét xử hàng loạt đại án kinh tế - chức vụ phức tạp gần đây.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khung khổ pháp luật hình sự thực định Việt Nam (BLHS năm 2015) và trách nhiệm hình sự của cá nhân; chưa đi sâu phân tích toàn diện cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại cũng như phương pháp định lượng cụ thể giá trị của các lợi ích phi vật chất trong thực tiễn tố tụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại đưa hối lộ; nghiên cứu quy trình giám định, lượng hóa lợi ích phi vật chất (quan hệ tình dục, vị trí công tác...); và đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định liên ngành giữa Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và BLHS năm 2015 qua thực tiễn thi hành dài hạn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, các nhà nghiên cứu tội phạm học; đồng thời có giá trị tham khảo thiết thực cho các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong quá trình định tội danh và áp dụng các tình tiết định khung, miễn trách nhiệm hình sự.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần phân tích chi tiết 4 khung hình phạt chính, hình phạt bổ sung và điều kiện miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 364 BLHS năm 2015.
    • Bảng so sánh, phân biệt ranh giới pháp lý giữa tội đưa hối lộ (Điều 364), tội môi giới hối lộ (Điều 365) và tội nhận hối lộ (Điều 354).
    • Hệ thống dẫn chứng, thủ đoạn phạm tội và phương thức xử lý được trích xuất từ các bản án và đại án thực tế (MobiFone - AVG, Chuyến bay giải cứu, Việt Á, buôn lậu xăng dầu).

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng khái niệm "lợi ích đưa hối lộ" như thế nào so với Bộ luật Hình sự năm 1999?
BLHS năm 1999 chỉ giới hạn của hối lộ là lợi ích vật chất như tiền, tài sản. BLHS năm 2015 đã thay thế cụm từ "của hối lộ" bằng "lợi ích đưa hối lộ", đồng thời bổ sung "lợi ích phi vật chất" (lợi ích tinh thần, vị trí công tác, tình dục...) vào cấu thành tội phạm, giúp tương thích với Điều 15 và Điều 21 Công ước UNCAC.

2. Điều kiện để người đưa hối lộ được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ tài sản theo Khoản 7 Điều 364 BLHS năm 2015 là gì?
Người đưa hối lộ phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: (1) bị ép buộc đưa hối lộ và (2) đã chủ động khai báo với cơ quan có thẩm quyền trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát giác.

3. Khung hình phạt cao nhất đối với tội đưa hối lộ trong Bộ luật Hình sự 2015 có điểm gì khác so với Bộ luật Hình sự 1999?
Theo Khoản 4 Điều 364 BLHS năm 2015, khung tăng nặng thứ ba áp dụng mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm khi giá trị của hối lộ từ 1.000.000.000 đồng trở lên. Luật đã bãi bỏ hình phạt tù chung thân và tử hình từng được quy định tại Khoản 4 Điều 289 BLHS năm 1999.

4. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ hay không?
Không. Căn cứ Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 điều luật được liệt kê cụ thể. Danh sách này không chứa các tội phạm thuộc Chương XXIII (Các tội phạm về chức vụ), do đó chủ thể của tội đưa hối lộ bắt buộc phải từ đủ 16 tuổi trở lên.

5. Trong vụ án "Chuyến bay giải cứu", các bị cáo thuộc doanh nghiệp Blue Sky đã thực hiện hành vi đưa hối lộ với quy mô như thế nào?
Lê Hồng Sơn (Tổng Giám đốc) và Nguyễn Thị Thanh Hằng (Phó Tổng Giám đốc Công ty Blue Sky) đã thống nhất và phối hợp đưa hối lộ tổng cộng 63 lần với số tiền hơn 38.000.000.000 đồng cho 12 cá nhân và một số người có thẩm quyền tại các địa phương để được cấp phép tổ chức chuyến bay và cách ly y tế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thùy Anh đã cung cấp một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về tội đưa hối lộ theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 dưới góc độ lý luận, lịch sử và luật học so sánh quốc tế. Nghiên cứu đã làm rõ cấu thành pháp lý, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và sự phân hóa khung hình phạt, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng áp dụng qua các đại án thực tế tại Việt Nam. Dựa trên số liệu thống kê tư pháp và việc chỉ ra các khoảng trống pháp lý, khóa luận đã đề xuất các nhóm giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý tội phạm đưa hối lộ trong giai đoạn hiện nay.