Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hành vi cưỡng đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến quyền nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân). Loại tội phạm này làm phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật liên quan như bắt, giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân Tối cao, trong giai đoạn 2018 – 2022, hệ thống Tòa án các cấp đã thụ lý 2.445 vụ án với tổng số 5.353 bị cáo phạm tội cưỡng đoạt tài sản. Tình hình tội phạm có xu hướng gia tăng qua các năm: năm 2018 thụ lý 436 vụ án với 960 bị cáo, đến năm 2022 tăng lên 500 vụ án với 1.073 bị cáo. Phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, liều lĩnh, xuất hiện nhiều vụ án có quy mô lớn gây thiệt hại hàng tỷ đồng (điển hình như vụ án Nguyễn Xuân Đường cùng đồng phạm) hoặc các đường dây tội phạm hoạt động dưới hình thức băng nhóm "xã hội đen", "núp bóng" các giao dịch dân sự.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có nhiều sửa đổi tiến bộ so với các bộ luật trước đây, thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 170 vẫn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc. Các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp lúng túng trong việc định tội danh, phân biệt với các tội xâm phạm sở hữu khác và áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng mang tính định tính. Do đó, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản và đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật đối với loại tội phạm này trên thực tế.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, đặc điểm và cơ sở của việc ban hành các quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản.
    2. Khái quát lịch sử và phân tích thực trạng quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản qua các thời kỳ.
    3. Nghiên cứu so sánh quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới (Liên bang Nga, Thụy Điển), từ đó rút ra kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
    4. Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự hiện hành về tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn cả nước giai đoạn 2018 – 2022, làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý về tội cưỡng đoạt tài sản; hệ thống quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số quốc gia về tội cưỡng đoạt tài sản; thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật hình sự đối với tội danh này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Các dấu hiệu pháp lý định tội, định khung, trách nhiệm hình sự và thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • Về thời gian: Tập trung khảo sát số liệu thực tiễn xét xử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
    • Về không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trên phạm vi toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của luật hình sự Việt Nam và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:

  • Khung pháp lý tham chiếu:
    • Hiến pháp năm 2013 (Điều 14 về quyền con người, Điều 32 về bảo hộ quyền sở hữu tư nhân).
    • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 quy định về tài sản, Điều 163 về bảo vệ quyền sở hữu).
    • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 8 về khái niệm tội phạm, Điều 53 về tái phạm và tái phạm nguy hiểm, Điều 168 về Tội cướp tài sản, Điều 169 về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 về Tội cưỡng đoạt tài sản).
    • Các văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức - Điều 436), Sắc lệnh số 47-SL (1945), Sắc lệnh số 267-SL (1956), Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân (1970), Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 130 và Điều 153), Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 135).
    • Văn bản hướng dẫn áp dụng: Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
    • Luật thực định nước ngoài: Điều 163 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga (sửa đổi năm 2010); Chương 8 Điều 5 Bộ luật Hình sự Thụy Điển (1962, sửa đổi năm 1999).
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để mổ xẻ các khái niệm, cấu thành tội phạm và đánh giá các quan điểm khoa học.
    • Phương pháp lịch sử cụ thể: Sử dụng tại Chương 1 để theo dõi quá trình phát triển của quy phạm pháp luật hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam.
    • Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng tại Chương 1 để đối chiếu kỹ thuật lập pháp của Việt Nam với Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Thụy Điển.
    • Phương pháp hệ thống hóa: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích cấu trúc cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tăng nặng và định khung hình phạt.
    • Phương pháp thống kê tội phạm học và khảo sát bản án: Sử dụng tại Chương 3 nhằm thu thập, tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước từ năm 2018 đến 2022.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê chính thức từ Vụ Tổng hợp - Tòa án nhân dân Tối cao giai đoạn 2018 – 2022; hệ thống giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; các công trình nghiên cứu, sách bình luận khoa học và bài báo chuyên ngành trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Khoa học pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về tội cưỡng đoạt tài sản

Chương này tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quá trình lập pháp trong nước và kinh nghiệm quốc tế về tội cưỡng đoạt tài sản:

  • Khái niệm và đặc điểm: Khóa luận tổng hợp các định nghĩa học thuật và đưa ra khái niệm hoàn chỉnh: Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác bằng hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội phạm có các đặc điểm:
    • Khách thể kép: Xâm phạm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân (danh dự, nhân phẩm, uy tín, sự an tâm về thể chất).
    • Đối tượng tác động: Tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá vô danh) đang có người quản lý hợp pháp hoặc bất hợp pháp.
    • Cấu thành tội phạm hình thức: Tội phạm hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi đe dọa hoặc uy hiếp tinh thần nhằm mục đích chiếm đoạt, không bắt buộc người phạm tội đã lấy được tài sản hay chưa.
  • Cơ sở quy định: Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu được hiến định (Điều 32 Hiến pháp 2013), tính chất nguy hiểm đáng kể của hành vi xâm phạm đa khách thể, và tính phổ biến của loại tội phạm này khiến các biện pháp dân sự hay xử lý hành chính không đủ sức răn đe.
  • Lịch sử lập pháp:
    • Thời kỳ phong kiến: Điều 436 Quốc triều Hình luật đã quy định về hành vi "dọa nạt người để lấy của".
    • Giai đoạn 1945 – 1985: Tách biệt hành vi xâm phạm tài sản công dân và tài sản xã hội chủ nghĩa qua Sắc lệnh 267-SL (1956) và hai Pháp lệnh trừng trị năm 1970 (Điều 9 và Điều 7).
    • Giai đoạn 1985 – 1999: Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định tại hai điều luật riêng biệt (Điều 130 đối với tài sản XHCN, hình phạt tối đa 20 năm tù; Điều 153 đối với tài sản công dân).
    • Giai đoạn 1999 – 2015: Bộ luật Hình sự năm 1999 hợp nhất thành một điều luật duy nhất (Điều 135), định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt và phân hóa thành 4 khung hình phạt.
    • Giai đoạn 2015 đến nay: Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 170) cụ thể hóa các tình tiết định tính, bổ sung các tình tiết tăng nặng bảo vệ người yếu thế và kiểm soát việc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh.
  • Pháp luật quốc tế:
    • Liên bang Nga (Điều 163 BLHS Nga): Mô tả hành vi khách quan theo phương pháp liệt kê chi tiết (đe dọa dùng vũ lực, hủy hoại tài sản, lan truyền thông tin làm nhục), coi dấu hiệu chiếm đoạt là hành vi khách quan song song, mức hình phạt tương đối nhẹ và đa dạng hóa hình phạt bổ sung (phạt theo thu nhập).
    • Thụy Điển (Chương 8 Điều 5 BLHS Thụy Điển): Không đặt tên tội danh độc lập mà gom các hành vi đe dọa dùng vũ lực vào nhóm tội cướp và chiếm đoạt, không phân hóa chi tiết ranh giới giữa đe dọa ngay tức khắc và đe dọa trong tương lai.

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cưỡng đoạt tài sản

Chương 2 phân tích chuyên sâu các yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống định khung hình phạt theo Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015:

  • Các dấu hiệu pháp lý định tội:
    • Khách thể & Đối tượng tác động: Khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Đối tượng tác động là tài sản đang nằm trong sự kiểm soát, quản lý của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.
    • Mặt khách quan: Gồm hai dạng hành vi: (1) Đe dọa sẽ dùng vũ lực (đe dọa gây thiệt hại thể chất trong tương lai, có khoảng cách thời gian để nạn nhân cân nhắc); (2) Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần (đe dọa hủy hoại tài sản, đe dọa tố cáo sai phạm, phát tán hình ảnh nhạy cảm hoặc bí mật đời tư).
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản.
    • Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên đối với khoản 1 và khoản 2; từ đủ 14 tuổi trở lên đối với khoản 3 và khoản 4 (thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng).
  • Hệ thống khung hình phạt (Điều 170 BLHS 2015):
    • Khung cơ bản (Khoản 1): Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
    • Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2): Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, áp dụng cho các trường hợp: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tái phạm nguy hiểm.
    • Khung tăng nặng thứ hai (Khoản 3): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
    • Khung tăng nặng thứ ba (Khoản 4): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
    • Hình phạt bổ sung (Khoản 5): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
  • Phân biệt với các tội phạm xâm phạm sở hữu liên quan:
Tiêu chí Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) Tội cướp tài sản (Điều 168) Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169)
Khách thể Quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân (tính mạng, sức khỏe). Quyền tự do thân thể, quan hệ sở hữu, quan hệ nhân thân.
Hành vi khách quan Đe dọa sẽ dùng vũ lực (trong tương lai) hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần. Không dùng vũ lực ngay. Dùng vũ lực ngay tức khắc, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự. Thực hiện 2 hành vi: Bắt, giữ con tin trái pháp luật và Đe dọa người có quan hệ với con tin để đòi tài sản.
Khả năng phản kháng của nạn nhân Ý chí bị khống chế nhưng vẫn còn khả năng, điều kiện và thời gian để lựa chọn xử sự. Bị tê liệt ý chí hoàn toàn hoặc bị mất khả năng chống cự tại chỗ. Bị khống chế tâm lý lo sợ cho an nguy của con tin là người thân/người quen.
Đối tượng tác động của hành vi đe dọa Chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc người có liên quan. Người quản lý tài sản hoặc người cản trở việc chiếm đoạt. Người có trách nhiệm về tài sản (khác với người bị bắt làm con tin).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cưỡng đoạt tài sản và một số giải pháp hoàn thiện, bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự

Chương 3 tổng hợp số liệu thực tiễn và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:

  • Số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm (2018 – 2022):
Năm Số vụ án xét xử sơ thẩm Số bị cáo xét xử sơ thẩm
2018 350 741
2019 395 794
2020 367 767
2021 381 764
2022 384 744
Tổng cộng 1.877 3.810
Trung bình/năm 375,4 762
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng:
    • Về định tội danh: Đa số các vụ án được định tội chính xác. Tuy nhiên, vẫn xảy ra nhầm lẫn giữa tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản khi đánh giá yếu tố "đe dọa ngay tức khắc" hay "đe dọa trong tương lai"; nhầm lẫn với các tranh chấp đòi nợ dân sự hợp pháp khi chủ nợ dùng thủ đoạn đe dọa vượt quá giới hạn.
    • Về áp dụng tình tiết định khung: Việc xác định tình tiết "Phạm tội đối với người già yếu" gặp vướng mắc do chưa có định nghĩa pháp lý thống nhất (văn bản hướng dẫn cũ xác định người già là từ đủ 70 tuổi trở lên hoặc từ đủ 60 tuổi ốm đau thường xuyên, trong khi Luật Người cao tuổi quy định từ đủ 60 tuổi). Tình tiết "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" và "Lợi dụng tình trạng khẩn cấp" còn mang tính định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của Hội đồng xét xử.
  • Nguyên nhân của hạn chế:
    • Nguyên nhân lập pháp: Còn tồn tại các quy định mang tính định tính chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết từ Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
    • Nguyên nhân áp dụng: Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng chưa đồng đều; công tác thu thập chứng cứ chứng minh tâm lý lo sợ của bị hại gặp khó khăn.
  • Giải pháp đề xuất:
    • Hoàn thiện pháp luật hình sự: Ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết các tình tiết định khung: "người già yếu", "người không có khả năng tự vệ", "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp".
    • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; nâng cao kỹ năng điều tra các vụ án cưỡng đoạt tài sản có tổ chức, băng nhóm bảo kê; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật để người dân kịp thời tố giác khi bị đe dọa tống tiền.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính từ dữ liệu thực tiễn:
    • Phản ánh bức tranh toàn diện về công tác xét xử sơ thẩm tội cưỡng đoạt tài sản trên phạm vi toàn quốc trong 5 năm (2018 – 2022) với 1.877 vụ án và 3.810 bị cáo.
    • Chỉ rõ sự dịch chuyển phương thức phạm tội sang các dạng hành vi tinh vi như đe dọa qua mạng, đe dọa bằng hình ảnh nhạy cảm, "núp bóng" đòi nợ thuê trong các giao dịch dân sự.
  • Đóng góp về mặt học thuật và lập pháp:
    • Hệ thống hóa và xây dựng bộ tiêu chí phân định rõ ràng giữa Điều 170 với Điều 168 (Cướp tài sản) và Điều 169 (Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), giải quyết điểm nghẽn lý luận về tính tức khắc của hành vi đe dọa.
    • Chỉ ra khoảng trống pháp lý của Điều 170 BLHS 2015 đối với các khái niệm định tính và đề xuất tiêu chí cụ thể để cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản giải thích áp dụng thống nhất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn dữ liệu xét xử của khóa luận giới hạn trong giai đoạn 2018 – 2022 do Tòa án nhân dân Tối cao tổng hợp, chủ yếu tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm, chưa bao quát sâu số liệu thống kê ở cấp phúc thẩm và thi hành án hình sự.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tội cưỡng đoạt tài sản thực hiện trên không gian mạng (đe dọa tống tiền bằng dữ liệu cá nhân, deepfake, mã độc tống tiền); theo dõi việc áp dụng khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành các Nghị quyết hướng dẫn mới trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề.
    • Cán bộ thực tiễn tại Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và Luật sư tham khảo trong việc định tội danh và giải quyết tranh chấp ranh giới hình sự - dân sự.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bảng phân tích, so sánh cấu thành tội phạm giữa Tội cưỡng đoạt tài sản, Tội cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Chương 2.
    • Hệ thống bảng biểu thống kê xét xử thực tế giai đoạn 2018 – 2022 tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

  • 1. Tội cưỡng đoạt tài sản khác Tội cướp tài sản ở điểm cốt lõi nào về mặt khách quan?
    • Trả lời: Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở mức độ và tính chất của hành vi đe dọa. Tội cướp tài sản (Điều 168) có hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm nạn nhân lâm vào tình trạng tê liệt ý chí, mất khả năng chống cự tại chỗ. Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) chỉ có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực (trong tương lai) hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần; nạn nhân vẫn có khoảng cách thời gian và điều kiện để cân nhắc, lựa chọn xử sự trước khi quyết định giao tài sản.
  • 2. Vì sao tội cưỡng đoạt tài sản được coi là tội phạm có cấu thành hình thức?
    • Trả lời: Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt. Hậu quả người phạm tội đã lấy được tài sản hay chưa không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội.
  • 3. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung những tình tiết định khung tăng nặng mới nào cho tội cưỡng đoạt tài sản?
    • Trả lời: Điều 170 BLHS 2015 đã thay thế các tình tiết định tính cũ ("gây hậu quả nghiêm trọng/rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng") bằng các tình tiết cụ thể: "Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ", "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh" và "Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp".
  • 4. Tình huống tự dàn cảnh bị bắt cóc để đòi tiền chuộc của gia đình sẽ bị xử lý về tội danh nào?
    • Trả lời: Xử lý về Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) mà không phạm Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS). Nguyên nhân do trên thực tế không có hành vi bắt giữ con tin thật sự để xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác; hành vi gửi hình ảnh giả mạo uy hiếp tinh thần người thân để đòi tiền chỉ là thủ đoạn uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thu Trang đã làm sáng tỏ một cách toàn diện các vấn đề lý luận, lịch sử lập pháp và cấu thành pháp lý của Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua việc phân tích số liệu xét xử sơ thẩm 1.877 vụ án giai đoạn 2018 – 2022 trên toàn quốc, công trình đã chỉ rõ những vướng mắc thực tiễn trong việc định tội danh và áp dụng các tình tiết định khung định tính. Hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn do tác giả đề xuất cung cấp cơ sở khoa học hữu ích cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử đối với loại tội phạm này.