mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp của Anh. Chính yếu tố này đã tạo ra nguồn động lực mới, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy xã hội phát triển. Đồng thời, cuộc cách mạng công nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ riêng ở Anh mà cả các nước Âu, Mỹ. Cuộc cách mạng công nghiệp cũng làm chuyển đổi quy mô sản xuất nhỏ lên quy mô sản xuất lớn, với hệ thống các nhà máy công nghiệp và các công trường thủ công, cùng kỹ thuật liên hoàn, đồng bộ, quy mô lớn, sản xuất hàng loạt ra đời.
Tác động của cách mạng công nghiệp đã tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản thống trị toàn diện và trở thành hệ thống thế giới. Với việc nắm quyền kiểm soát chính quyền từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như nguồn sức lao động, giai cấp tư sản đã phát huy mọi tiềm lực có được để thúc đẩy sản xuất, mở rộng quy mô hoạt động. Bên cạnh sự phát triển của nền công nghiệp và thương mại, các nước tư bản lớn ở châu Âu cũng thi hành một đường lối bành trướng lãnh thổ, mở rộng ảnh hưởng ở các châu lục. Anh ngày càng “mở rộng ảnh hưởng ở Tây Phi và Nam Phi, chiếm giữ Tây Australia 15 (1829), Nam-Australia (1836), New Zealand (1839), Victoria (1850).
Singapore được thành lập năm 1819, Aden bị chiếm năm 1839 và Hồng Kông năm 1842. Sự mở rộng lãnh thổ này còn được tiến hành ở cả Canada và Ấn Độ” (Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu & Lê Thị Quý Đức, 2017, tr. Ở thời điểm này, nước Anh là đế quốc thực dân số một trên thế giới khi đồng thời vừa là cường quốc thương mại vượt trội, vừa là quốc gia làm chủ mặt biển trải dài trên các châu lục. Cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở một số nước tư bản chủ yếu như Anh, Pháp.
từ giữa thế kỷ thứ XIX đã tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học tự nhiên và cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa những nhà tư bản để giành lợi nhuận cao nhất dẫn đến sự ra đời của nhiều phát minh kỹ thuật mới. Việc áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại, từ đó nó thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng. Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp làm cho chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, gắn liền với những đặc trưng sau: thứ nhất, là sự tập trung sản xuất và tư bản hình thành các tổ chức độc quyền; thứ hai, là hình thành tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính; thứ ba, là việc xuất khẩu tư bản; thứ tư, là sự phân chia thế giới về kinh tế; thứ năm, là sự phân chia thế giới về lãnh thổ.
Mặt khác, với sự phát triển về kinh tế dẫn đến sự phân hóa xã hội, mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng gay gắt. Cơ cấu giai cấp trong xã hội phương Tây cũng có sự thay đổi lớn, ngoài giai cấp tư sản, địa chủ, quý tộc, nông dân thì đã có sự xuất hiện của giai cấp công nhân và phát triển ngày càng lớn mạnh. Về lĩnh vực kinh tế của một số quốc gia trong khu vực, điển hình là trường hợp vương quốc Xiêm (Thái Lan ngày nay), do 16 “vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, cộng thêm chính sách khôn khéo, kinh tế Xiêm có nhiều chuyển biến tích cực vào cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ XIX” (Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu & Lê Thị Quý Đức, 2017, tr. Các vương triều Rama nỗ lực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa và đường, không chỉ cung cấp đủ cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu với số lượng ngày càng tăng.
Đây cũng là thành tựu vượt bậc so với các nước trong khu vực lúc bấy giờ. Về thương mại, từ thế kỷ thứ XVI, thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan Anh, Pháp đã có mặt ở Thái Lan. Điều này đã giúp cho nền kinh tế cổ truyền của Thái Lan bước đầu tiếp cận với kinh tế hàng hóa. Các vua Rama của triều đại Chakri đồng loạt đẩy mạnh việc buôn bán, nhất là với bạn hàng truyền thống là Trung Quốc, sau đó là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như các tiểu quốc ở bán đảo Malaya, quần đảo Indonesia, Singapore, Campuchia.
Với những bước tiếp cận trên, đến cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, ngoại thương của Thái Lan phát triển hết sức mạnh mẽ, mang lại nguồn thu nhập lớn. “Theo các con số thống kê vào nửa đầu thế kỷ XIX, tổng giá trị buôn bán hàng năm trong xuất khẩu của Xiêm có năm lên tới 5. 000 bạt, còn nhập khẩu là 4. Giá trị xuất khẩu năm 1850 là 5.585 000 bạt, vượt xa giá trị nhập khẩu 1.000 bạt” (Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu & Lê Thị Quý Đức, 2017, tr.
Còn tại Nhật Bản, ngay từ thời Edo, bên cạnh hoạt động ngoại thương ở cảng mở Nagasaki với Hà Lan, Trung Quốc. chính quyền Tokugawa rất chú trọng đến phát triển nền thương mại trong nước. Đây là những tiền đề tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Nhật. Từ đó tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh cho các công cuộc duy tân, là cơ sở để tạo ra 17 tầng lớp lãnh đạo Nhật Bản thực hiện công cuộc cách mạng này.
Chính quyền Meiiji chú trọng phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sợi tơ tằm xuất khẩu, khuyến khích người dân tham gia vào việc phát triển công nghiệp, thương nghiệp, ngân hàng và chủ trương phát triển giao thông, xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu. Đặc biệt, là xây dựng hệ thống đường sắt, phát triển ngành bưu chính, thông tin. Đối với lĩnh vực tài chính - tiền tệ: chính quyền “chủ trương thu thuế bằng tiền, phát hành đồng yên chính thức, thiết lập ngân hàng, khuyến khích các tầng lớp cao trong xã hội tham gia vào hoạt động này. Ngay từ thời kỳ đầu của Meiji, ở Nhật Bản đã sớm hình thành các tập đoàn kinh tế lớn như Mitsubishi và Mitsui.TS Nguyễn Tiến Lực, 2013, tr.
Với việc thực hiện hàng loạt các cải cách kinh tế, đã làm thay đổi cơ cấu giai cấp, “ở Nhật Bản sự phát triển của những mầm mống tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng xã hội phong kiến thời Tokugawa đã tạo ra một tầng lớp mới xuất thân từ thị dân (Chonin) và võ sĩ (Samurai) cấp tiến. Tầng lớp mới này ngày càng xuất hiện đông đảo, đặc biệt vào cuối thời Edo Bakufu” (PGS.TS Nguyễn Tiến Lực, 2013, tr. Ngay cả trong thời kỳ thực thi chính sách đóng cửa (Sakoku), thế lực của tầng lớp thương nhân ngày càng mạnh, “họ là người quyết định những vấn đề về giá cả, hàng hóa, hối đoái.TS Nguyễn Tiến Lực, 2013, tr. Qua đó, họ khẳng định vị thế chính trị của mình.
Đồng thời, thương nhân và võ sĩ cấp tiến cũng là lực lượng vạch ra kế hoạch lật đổ chế độ Tokugawa, lãnh đạo sự nghiệp duy tân Nhật Bản. Đối với việc phát triển lực lượng sản xuất “Để giải phóng sức lao động chính quyền Meiji đã xóa bỏ chế độ đẳng 18 cấp (Mibun) Sĩ - Nông - Công - Thương, xóa bỏ đặc quyền của tầng lớp võ sĩ, tuyên bố “tứ dân bình đẳng” (PGS.TS Nguyễn Tiến Lực, 2013, tr. Chính sự năng động, tức thời của chính quyền, với quyết tâm cải cách cao, Nhật Bản đã biến những nguy cơ, thách thức từ bên ngoài thành một cơ hội để học tập phương Tây, thực hiện kế hoạch cải cách đất nước mình, tạo ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội của đất nước. Điều này đã giúp Nhật Bản nhanh chóng đi vào con đường hiện đại hóa, cấp tốc và trở thành nước công nghiệp hàng đầu thế giới.
Đối với khu vực Đông Nam Á, do “vị trí địa lý thuận lợi đã trở thành nơi giao lưu quốc tế từ rất sớm. Nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, khu vực này từ lâu đã được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải” (Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu & Lê Thị Quý Đức, 2017, tr. Vì vậy, khu vực Đông Nam Á không chỉ là điểm đến, mà còn là nơi cung cấp các mặt hàng, trao đổi và đóng vai trò chủ thể trên các lộ trình thương mại. “Nơi đây cung cấp thiếc, gia vị, ngà voi, gỗ mun, vàng, hương liệu cho Ấn Độ và trong đó có một phần cho Châu Âu để đổi lấy các sản phẩm hàng hóa của Ấn Độ.
Với Trung Quốc thì để đổi đồ gốm, lụa, dù, lọng và những thứ khác dùng trong các lễ nghi, bên cạnh việc cung cấp kim loại quý, đồ trang sức, khung dệt vải, hương liệu.” (Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu & Lê Thị Quý Đức, 2017, tr. Riêng với Việt Nam lúc này, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiếp tục được duy trì trong một chế độ xã hội mà đường lối chính trị không được xây dựng trên một triết lý, một hệ tư tưởng vững vàng, nên nhà Nguyễn đã 19 sử dụng chính sách trọng nông, ức thương nhằm bảo vệ quyền lợi chính trị cho mình, lại vô trách nhiệm đối với xã hội. Kinh tế đất nước ngày càng kiệt quệ, triều đình vơ vét tiền bạc, mọi khoản thu chi trong ngân sách đều dựa vào tô thuế nông nghiệp. Nhà nước kiểm soát, giữ độc quyền buôn bán với nước ngoài, nhằm đối phó với hiểm họa các nước phương Tây.
Các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với các yêu cầu phát triển của xã hội đều bị bóp nghẹt. Trong kinh tế, với lĩnh vực nông nghiệp, trước khi thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế nước ta căn bản là nên kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cung, tự cấp, khép kín và bị kìm hãm trong phạm vi các làng xã. Trong khi các khoản thu, chi trong ngân sách quốc gia đều chủ yếu dựa vào nguồn thuế nông nghiệp, nên chế độ thuế khóa dưới triều Nguyễn rất nặng nề, làm cho đời sống của nông dân trở nên điêu đứng, cùng quẫn. Mất mùa, thiên tai, dịch bệnh.
đã diễn ra liên miên, càng gây hậu quả nghiêm trọng hơn.