phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. 10 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA PHAN CHÂU TRINH 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA PHAN CHÂU TRINH 1. Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới cho sự hình thành tƣ tƣởng canh tân của Phan Châu Trinh Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới đã có những biến động to lớn.
Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp lần thứ hai mà trọng tâm là phát triển khoa học kỹ thuật trong sản xuất đã thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, sức sản xuất được mở rộng, cơ cấu giai cấp - xã hội có sự thay đổi. Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra những mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội tư bản làm thay đổi đời sống con người về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, không chỉ ở một nước mà là ở hầu khắp các nước trong đó có Việt Nam. Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất vô cùng lớn; giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Những thành tựu mà khoa học kỹ thuật đem lại cho nền sản xuất thế giới vô cùng lớn, sản lượng công nghiệp tăng lên nhanh chóng, thép được sử dụng phổ biến rộng rãi trong sản xuất như chế tạo máy, đường ray, tàu biển, các công trình xây dựng… khẳng định vai trò cách mạng của giai cấp tư sản trong lịch sử xã hội loài người.
Bước sang đầu thế kỷ XX nhịp độ phát triển của công nghiệp nặng ngày càng nhanh chóng hơn so với công nghiệp, nông nghiệp lại càng lạc hậu. Các cuộc khủng hoảng 11 nông nghiệp, khủng hoảng kinh tế và cuối cùng là tổng khủng hoảng liên tiếp nhau diễn ra. Các nước tư bản như Anh, Mỹ, Đức chênh lệch nhau rất rõ về nhịp độ phát triển công nghiệp, từ đó vị trí của mỗi nước cũng thay đổi trong nền sản xuất thế giới, chúng trở thành nguồn gốc của của sự tranh chấp gay gắt về thị trường và thuộc địa. Lịch sử 30 năm cuối thế kỷ XIX là lịch sử đau thương của các nước thuộc địa bị các nước đế quốc xâm chiếm.
Với mục đích làm tăng lợi nhuận, củng cố địa vị kinh tế và chính trị, các tổ chức độc quyền ở các nước đế quốc tăng cường tranh giành thị trường ngoài nước và mở rộng phạm vi bóc lột đế quốc chủ nghĩa, chúng trở thành những hãng xuất khẩu tư bản chủ yếu. Để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cao, các tổ chức độc quyền này dồn tư bản vào các nước lạc hậu về kinh tế, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, nơi mà sức lao động và đất đai rẻ mạt. Việc xuất khẩu tư bản sang các nước này tạo điều kiện mở rộng phạm vi bóc lột tư bản chủ nghĩa, đưa vào đấy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, tư bản nước ngoài đã cản trở sự phát triển của tư bản dân tộc và là công cụ để các cường quốc đế quốc chủ nghĩa tiếp tục nô dịch các nước lạc hậu về kinh tế trong đó có Việt Nam.
Trong giai đoạn này, việc chiếm thuộc địa mang một vai trò quan trọng. Chiếm thuộc địa là độc chiếm nguồn nguyên liệu và công nhân giá rẻ, chiếm thị trường đầu tư và tiêu thụ hàng hóa, xây dựng một cơ sở chắc chắn cho mình trong cuộc tranh chấp với các đối thủ khác. Chiếm thuộc địa còn mang ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự và nguồn cung cấp “bia đỡ đạn” trong những cuộc chiến tranh ăn cướp. Vậy nên các nước đế quốc mặc dù đã nắm giữ một vùng thuộc địa rộng lớn nhưng vẫn ráo riết vươn vòi xâm chiếm sang các quốc gia Châu Á.
Việt Nam từ một nước độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nói đến thuộc địa là nói đến những sự đau thương mà người dân thuộc địa đang phải gánh chịu, bóc lột đến tận cùng, chém giết người vô tội, đẩy những người dân yêu nước vào con đường 12 chết, thuộc địa là một nơi trì trệ về kinh tế, con người thuộc địa ngu muội về văn hóa - giáo dục. Là một người dân của xứ thuộc địa, Phan Châu Trinh đã sang Pháp để tìm hiểu về thế giới cũng như về nước Pháp. Ông nhận thấy rằng xã hội tư bản chủ nghĩa với những với những thành quả mà nó đạt được là rất tiến bộ so với xã hội phong kiến ở Việt Nam lúc bấy giờ.
Đất nước Pháp đang phát triển, con người Pháp được hưởng các quyền tự do dân chủ. Ông ăn nằm trên mảnh đất dân chủ, hớp được cái hơi của chủ nghĩa dân chủ, tận mắt chứng kiến nền dân chủ của đất Pháp. Tất cả đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến tư tưởng của ông, đến toàn bộ hệ thống tư tưởng canh tân mà Phan Châu Trinh đã tâm huyết xây dựng nên. Về chính trị - xã hội, cùng với sự phát triển kinh tế giai cấp tư sản dần dần củng cố địa vị chính trị của mình, thông qua xây dựng và phát triển nền dân chủ tư sản, tạo bước chuyển từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ; từ quân quyền, thần quyền sang pháp quyền.
Chế độ dân chủ tư sản ra đời đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ về chính trị xã hội so với các chế độ chính trị xã hội khác tồn tại trước. Cuối thế kỷ XIX, nền dân chủ tư sản bộc lộ bản chất phản động mà xuất phát từ những mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế được bộc lộ hết sức gay gắt, bằng chứng là những cuộc khủng hoảng kéo dài liên tiếp nhau, những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc trong lòng xã hội tư bản. Đó là cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, một bên giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa nhân dân, một bên giai cấp vô sản ngày càng đông đảo về số lượng, trưởng thành về ý thức, vững mạnh về tổ chức để chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình, cao hơn nữa là lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng toàn bộ người lao động bị áp bức, bóc lột. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác lúc này đã lan tỏa rộng khắp trong phong trào công nhân và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Từ một con người thuần Nho, được đào tạo, trưởng thành trong chế độ phong kiến, Phan Châu Trinh ngỡ ngàng trước những thành quả mà chế độ dân chủ đem lại. Ông so 13 sánh với chế độ phong kiến từ đó rút ra những hạn chế, lạc hậu, lỗi thời của chế độ phong kiến. Ông đem lòng say mê dân chủ, muốn đưa Việt Nam tiến lên theo con đường dân chủ, từ đó mới có thể giành lại được độc lập. Về tư tưởng văn hóa, trong giai đoạn này khoa học kĩ thuật có những phát triển vượt bậc, các tác phẩm văn học, các trào lưu văn hóa được phổ biến rộng rãi.
Từ những quan điểm về dân chủ sơ khai của Vônte như quyền được bình đẳng, quyền được tham gia vào công việc nhà nước; những nội dung về pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến và thuyết “tam quyền phân lập” của Môngtexkiơ đến Rútxô với tư tưởng đề cao quyền lực của nhân dân, ý chí của nhân dân, chủ trương xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa trong đó nhân dân thực sự nắm quyền lực chính trị của xã hội. Những tư tưởng ấy đã thôi thúc các nhà tư tưởng Việt Nam, trong đó có Phan Châu Trinh tìm ra con đường cho thực trạng xã hội Việt Nam. Cùng với sự biến đổi mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực ở các nước phương Tây, phong trào canh tân đất nước ở các nước phương Đông đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản có tác động hết sức mạnh mẽ đến tư tưởng canh tân của Phan Châu Trinh. Tại Nhật Bản những năm 60 của thế kỷ XIX, trước sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, các nước đế quốc Mĩ, Anh, Pháp đòi hỏi Nhật Bản phải mở của để giao lưu buôn bán, về sau mưu đồ biến Nhật Bản phải rơi vào địa vị phụ thuộc.
Việc mở cửa đã tác động rất lớn đến kinh tế và chính trị của Nhật Bản lúc bấy giờ. Hàng hóa nội địa vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài ngày càng tràn lan, nhiều ngành nghề thủ công bị ảnh hưởng, cuộc sống của nông dân và thợ thủ công gặp nhiều khó khăn. Sự biến đổi về kinh tế đã kéo theo sự xáo trộn về mặt xã hội, những nguyên tắc đạo đức, nguyên tắc đẳng cấp không còn được giữ vững, xuất hiện các phong trào đòi trả quyền cho Thiên hoàng và đòi tiến hành cải cách. Ngày 3 tháng 1 năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi khi mới 15 tuổi nhờ vào lực lượng tầng 14 lớp võ sĩ và các lãnh chúa có tư tưởng cải cách.
Một nghị viện có khả năng phản ánh ý kiến rộng rãi của nhân dân được lập ra, các cuộc cải cách hành chính được thi hành, sức sản xuất được giải phóng, cuộc sống nông thôn dần đi vào ổn định. Công thương nghiệp được khuyến khích phát triển, thị trường trong nước được thống nhất. Nhà nước còn tính đến thị trường nước ngoài để du nhập kĩ thuật tiên tiến. Chính phủ Nhật Bản đặt lên hàng đầu việc nâng cao trình độ dân trí, tiến hành cải cách giáo dục và thi hành chế độ cưỡng bức giáo dục.
Như vậy, công cuộc cải cách của Nhật Bản nhờ vào các lực lượng xã hội có tư tưởng canh tân đã đưa nước Nhật thoát ra khỏi con đường phụ thuộc, từ đó tạo đà vững mạnh để phát triển kinh tế, giúp Nhật Bản không những giữ vững được độc lập mà còn trở thành một nước tư bản phát triển. Bài học canh tân của đất nước Nhật Bản đã tác động không nhỏ đến các nhà tư tưởng yêu nước của Việt Nam lúc bấy giờ. Lúc bấy giờ, Phan Châu Trinh đã tiếp cận được với công cuộc canh tân của Nhật Bản.