CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA ARIXTỐT 1. Cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt 1. Cuộc đời Arixtốt Arixtốt sinh tại thành phố Stagir trên bờ biển Êgiê thuộc xứ Maxêđoan vào năm 384 Tr CN. Arixtốt không phải là người dân Athen gốc, quê hương của ông chỉ là một tỉnh lẻ so với Athen.
Tuy nhiên, nhờ có các cuộc chinh chiến xâm lược của Alêcxanđrơ đã giành được thắng lợi nên vị trí của nó đã trở nên quan trọng hơn hẳn. Cha ông là thầy thuốc Nicômac - người chuyên chữa bệnh cho vua Maxêđoan là Aminta. Năm 369 Tr CN, khi mới 15 tuổi, ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Arixtốt không kế tục nghề thuốc của cha.
Do lòng ham mê khoa học, ông đã rời bỏ quê hương tới Athen để học tập. Năm 367 Tr CN, ông vào học ở Hàn lâm viện Platôn. Trong suốt 20 năm tại đây, Arixtốt luôn được Platôn đánh giá rất cao, ông đã thể hiện mình là một học trò thông minh và có hiểu biết rộng như chính Platôn đã so sánh rằng: đối với Ksenôkrat thì cần phải có cựa giầy để thúc còn đối với Arixtốt thì cần tới dây cương đề kiềm lại. Năm 348 Tr CN, sau khi Platôn mất, Arixtốt quyết định rời bỏ Hàn lâm viện vì không muốn tiếp tục làm việc dưới sự lãnh đạo bất tài của người cháu của Platôn là Spevxip.
Sau khi rời Athen, Arixtốt đã tới sống tại thành phố Assos thuộc vùng Tiểu Á. Tại đây, ông đã gặp l¹i người bạn học cùng ở Học viện Platôn là Germi. Arixtốt đã giúp Germi khá nhiều trong việc cai trị thiên hạ. Chính trong khoảng thời gian sống tại Assos, Arixtốt đã khẳng định được thế giới quan riêng của mình.
Arixtốt đã cưới Piphiađa – cháu gái của Germi và sinh được một cô con gái. Sau đó, Arixtốt đã chuyển sang thành phố Mitilena theo lời mời của Teophrast – người bạn đồng hương đồng thời là người phụ tá của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông trong suốt quãng đời còn lại. Năm 343 Tr CN, Arixtốt được vua Maxêđoan là Philip Đệ nhị mời tới thành phố Pella để dạy học cho cậu bé 13 tuổi là Alêchxanđrơ, người mà sau này đã chinh phục toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp và các quốc gia vùng Ba Tư, dựng lên một chính thể quân chủ vô cùng rộng lớn. Sau 3 năm được giáo dục dưới bàn tay của Arixtốt, Alêchxanđrơ đã từ giã những đam mê thuở niên thiếu để theo cha cai trị muôn dân.
Ông vua này đã kính trọng Arixtốt như chính phụ vương của mình, Alêchxanđrơ nói: “Tôi kính trọng Arixtốt ngang với cha tôi, nếu tôi chịu ơn cha tôi bởi cuộc đời thì tôi chịu ơn Arixtốt bởi ông là người đã đem lại giá trị cho cuộc đời đó” [trích theo 12; 16]. Năm 339 Tr CN, Arixtốt trở về thành phố nơi ông sinh ra – Stagir, nơi đã bị Philíp Đệ nhị tàn phá năm 349 Tr CN trong cuộc chiến tranh với Athen. Sau này để đền ơn Arixtốt đã có công dạy dỗ con trai mình, Philíp Đệ nhị đã cho xây dựng lại Stagir. Sau khi Philíp Đệ nhị qua đời năm 335 Tr CN, Alêchxanđrơ lên ngôi, Arixtốt tới Athen lần hai.
Tại đây, Arixtốt đã mở trường triết học riêng của mình có tên là Lykêi. Theo tương truyền, các môn sinh ở trường này thường có thói quen vừa đi bộ vừa tranh luận những vấn đề triết lý nên họ còn ®îc gọi là “những du triết gia” hay những người Tiêu dao, có lẽ đây là lý do trường có tên gọi thứ hai là trường Tiêu dao. Arixtốt dạy ở trường Lykêi được 12 năm. Trong thời gian này, Arixtốt không những đã sáng tác mà còn giảng dạy và ph©n loại nhiều khoa học như về triết học, sử học, y học… nhất là khoa học tự nhiên và sinh vật học.
Thời gian Arixtốt trở lại Athen lần hai cũng là thời kì Alêchxanđrơ Maxêđoan tiến hành các cuộc hành quân chinh phạt các vùng lãnh thổ trong khu vực. Năm 338 Tr CN, Alêchxanđrơ bắt đầu chinh phục toàn bộ lãnh thổ của Hy Lạp, tiếp đó chinh phục các nước Xiri, Ai Cập… Năm 331 Tr CN, cả một vùng rộng lớn của đế quốc Ba Tư đã bị chiếm đóng và cuối cùng là cuộc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành quân tới Ấn Độ. Trong thời gian này, quan hệ thầy trò giữa Arixtốt với Alêchxanđrơ dần phai nhạt. Trong khi Alêchxanđrơ khuyến khích việc hòa đồng giữa những người Maxêđoan mới đến với những người Hy Lạp bản địa thì Arixtốt lại cố thuyết phục ông ta về sự khác biệt mang tính nguyên tắc giữa người Hy Lạp với những người ở vùng khác.
Năm 323 Tr CN, cái chết đột ngột của Alêchxanđrơ trên đường viễn chinh đã gây ra sự đảo lộn trong xã hội, làm cho số phận những người theo ông cũng bị thay đổi. Những người Athen từ địa vị phụ thuộc đã nổi dậy đấu tranh vũ trang chống lại những người Maxêđoan. Và Arixtốt cũng cùng chung số phận với những người Maxêđoan bị dân chúng Athen săn đuổi. Những người Athen vẫn cho rằng Arixtốt là người ủng hộ triều đình Maxêđoan.
Để chống lại Arixtốt, tòa án Athen đã không lấy lý do chính trị mà lấy lý do tôn giáo như đã từng làm để chống lại Xôcrát trước đây. Tòa án Athen buộc Arixtốt vào tội bất sùng tín vì lí do ông đã ca tụng cái chết của Germi – một bạo chúa cai trị vùng Tiểu Á và đã viết một bài thơ kính tặng bạn mình. Để tránh những biến cố chính trị sắp giáng xuống, Arixtốt đã lặng lẽ chuyển giao quyền quản lý trường Lykêi cho người phụ tá là Teophrast và bí mật rời khỏi Athen. Arixtốt chuyển về quê hương người mẹ quá cố của mình ở Haikinđa trên đảo Evbeia.
Hai tháng sau đó, vào năm 322 Tr CN, ông trút hơi thở cuối cùng ở đây. Người ta cho rằng Arixtốt là người đầu tiên xây dựng nền móng khoa học cho Hy Lạp cũng như cho cả thế giới. Nền triết học rực rỡ của Hy Lạp đã tắt cùng với cái chết của nhà triết học vĩ đại này. Sự nghiệp sáng tác của Arixtốt Arixtốt – bộ óc bách khoa thư, ông đã để lại cho nhân loại một di sản khoa học đồ sộ lên tới vài trăm cuốn.
Tuy nhiên, cho tới nay hầu hết các tác phẩm của ông bị thất lạc và số còn lại không nhiều. Nguyên nhân chủ yếu là do sự hủy hoại của thời gian và sự tiêu hủy của con người qua các thời kỳ lịch sử. Trong số các tác phẩm còn giữ lại được tới ngày nay, có tác phẩm là 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên bản của Arixtốt, có những tác phẩm có thể được các học trò của ông thuộc nhiều thế hệ bổ sung, hoàn chỉnh, diễn giải qua mỗi lần biên tập và xuất bản. Thậm chí còn có những tác phẩm do người đời sau đặt tên hoặc gán cho «ng khi nó được xuất bản.
Song về cơ bản, chúng ta có thể phân chia sự phát triển tư tưởng triết học của Arixtốt thành ba giai đoạn như sau: 1) Giai đoạn ở Hàn lâm viện của Platôn Trong thời gian này, khoảng năm 367 – 347 Tr CN, lối suy tư của Arixtốt còn chịu ảnh hưởng rất rõ tư tưởng của Platôn. Khi viết “Những hội thoại”, Arixtốt đã mô phỏng theo tư tưởng triết học của Platôn. Chẳng hạn, trong hội thoại Eudemos, Arixtốt đã rao giảng về sự tồn tại của linh hồn trước khi con người được sinh ra, về sự bất tử của linh hồn… Ngoài ta, nó còn được trình bày trong các tác phẩm như “Chính nghĩa”, “Chính trị”, “Các nhà ngụy biện”, “Yến tiệc”, “Bàn về cái thiện”, “Bàn về các ý niệm”, “Bàn về sự cầu nguyện”. Chỉ vào cuối thời kì này, Arixtốt mới có những quan điểm khác biệt đầu tiên với người thầy của mình.
Tuy nhiên, những tác phẩm ở thời kì này còn lại đến ngày nay rất ít. 2) Giai đoạn giao thời Giai đoạn này gồm các tác phẩm được Arixtốt viết ở Assos, Lesbos và trong triều đình Maxêđoan. Trong số đó phải kể đến hội thoại “Bàn về triết học”. Ở giai đoạn này đã manh nha những ấn phẩm giáo khoa của Arixtốt, mà theo đánh giá của W.Jeager, được coi là siêu hình học đầu tiên, đạo đức học đầu tiên, chính trị học và vật lý học đầu tiên.
3) Giai đoạn Arixtốt sống ở Lykêi Đây là giai đoạn Arixtốt sáng tác rất nhiều tác phẩm trên nhiều lĩnh vực. Qua đó, Arixtốt đã trình bày những quan điểm chín muồi của mình. Những ấn phẩm thời kì này còn lưu truyền tương đối nguyên vẹn tới ngày nay, có thể chia thành 8 nhóm như sau: 1. Nhóm tác phẩm về lôgic học của Arixtốt lần đầu tiên được Anđrônik 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rôđôski cho xuất bản vào thế kỉ thứ I Tr CN dưới một tên gọi chung là “Organon” (Công cụ học).
“Organon” được tập hợp từ 5 tác phẩm logic của Arixtốt. Đó là: “Các phạm trù”, “Analitika” I và II, “Topika”, “Về sự giải thích” và “Bác bỏ thuật ngụy biện”. Nhóm tác phẩm về triết học hay theo cách gọi của Arixtốt là “Triết học thứ nhất”. Các tác phẩm thuộc loại này bao gồm các cuốn sách của Arixtốt được người đời sau sắp xếp thành một tác phẩm lớn có tên là Metaphysika mà chúng ta dịch là “Siêu hình học”.
Anđrônik Rôđôski cho xuất bản các cuốn sách này ở La Mã vào thế kỉ I Tr CN thành một tác phẩm lớn sau khi ông xuất bản tác phẩm “Physika” (vật lý học) của Arixtốt. Không chọn được tên gọi thích hợp cho tác phẩm lớn này, Anđrônik đành đặt tên cho nó là “Metaphysika” nghĩa là “sau vật lý học”. Vì vậy, ý nghĩa tên gọi của cuốn sách không phải là “siêu hình học” đối lập với phép biện chứng như chúng ta vẫn thường biết. “Siêu hình học” của Arixtốt gồm 14 cuốn sách được viết ra trong các thời gian khác nhau và được sắp xếp lại không theo một trật tự nhất định nào.
Do đó, trong nội dung tác phẩm có nhiều chỗ trùng lặp và đôi khi mâu thuẫn nhau. Những vấn đề triết học mà Arixtốt bàn đến trong “Siêu hình học” gồm: sự phê phán học thuyết ý niệm của Platôn; Vấn đề tồn tại và mối quan hệ giữa các khái niệm với tồn tại cảm tính; Học thuyết về bốn nguyên nhân; Vấn đề nhận thức luận… 3. Nhóm tác phẩm về vật lý học hay “Triết học thứ 2”. Các tác phẩm thuộc loại này gồm “Vật lý học”, “Về bầu trời”, “Về sự xuất hiện và diệt vong”, “Khí tượng học”.
Cả 4 tác phẩm tạo thành một chỉnh thể thống nhất.