phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có bốn chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài và tổng quan về hai tác phẩm Quán gò đi lên, Ngồi khóc trên cây của Nguyễn Nhật Ánh. Chƣơng 2: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ địa phƣơng Quảng Nam trong văn Nguyễn Nhật Ánh. Chƣơng 3: Đặc điểm cấu tạo từ của các từ ngữ địa phƣơng trong văn Nguyễn Nhật Ánh. Chƣơng 4: Tầm tác động của từ ngữ địa phƣơng Quảng Nam trong văn Nguyễn Nhật Ánh.
5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VỀ HAI TÁC PHẨM QUÁN GÒ ĐI LÊN, NGỒI KHÓC TRÊN CÂY CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH.1 Từ địa phƣơng và từ địa phƣơng Quảng Nam: 1. Từ địa phương a. Khái niệm Đối lập với ngôn ngữ toàn dân là phƣơng ngữ, nói cách khác phƣơng ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân. Phƣơng ngữ có hai loại là phƣơng ngữ địa lý và phƣơng ngữ xã hội.
Phƣơng ngữ địa lí có thể là một vùng, ví dụ: phƣơng ngữ Trung (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế); có thể là phƣơng ngữ của một khu vực hẹp hơn nhƣ: phƣơng ngữ Quảng Nam. Bộ phận thứ hai của phƣơng ngữ là phƣơng ngữ xã hội nhƣ: tiếng lóng, biệt ngữ (biệt ngữ triều đình, biệt ngữ tôn giáo, biệt ngữ tín ngƣỡng). Trong phƣơng ngữ địa lí, ngƣời ta có thể nghiên cứu về các ngữ âm lẫn hệ thống từ vựng. Trong hệ thống từ vựng của một vùng miền nào đó có những từ ngữ của riêng vùng miền đó, những đơn vị này gọi là từ địa phƣơng.
Điều này có nghĩa, từ địa phƣơng là một bộ phận của phƣơng ngữ. Từ địa phƣơng là một khái niệm đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm. Mỗi nhà ngôn ngữ học có một quan niệm riêng về từ địa phƣơng: - Các nhà từ vựng học đã đưa ra các cách định nghĩa về từ địa phương như sau: Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ địa phƣơng là những từ ngữ đƣợc dung hạn chế ở một hoặc một vài địa phƣơng. Nói chung từ địa phƣơng là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ văn học.
Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phƣơng thƣờng mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phƣơng, đặc điểm của nhân vật…” [5, tr.292, 293] 6 Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt cho rằng: “Những đơn vị từ vựng địa phƣơng là những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âm nhiều hay ít nhƣng không nằm trong những sai dị ngữ âm đều đặn hay không đều đặn…” [1, tr.261] Nguyễn Văn Tu: “Từ địa phƣơng không có trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng đất nhất định. Chúng mang sắc thái địa phƣơng. Ngƣời của địa phƣơng này không hiểu đƣợc những từ của địa phƣơng khác.234] Nhìn chung các nhà từ vựng học trên đều cho rằng: từ địa phƣơng là hệ thống từ vựng của một vùng nhất định, không phải là từ vựng của ngôn ngữ toàn dân. Chúng mang sắc thái địa phƣơng.
- Các từ điển lại định nghĩa từ địa phương như sau: Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: Phƣơng ngữ là “biến thể theo địa phƣơng hoặc theo tầng lớp xã hội của một ngôn ngữ.793] Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên định nghĩa nhƣu sau: Từ địa phƣơng là “Từ của một phƣơng ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phƣơng đó.339] Phƣơng ngữ là một khái niệm rộng, khi nghiên cứu phƣơng ngữ đòi hỏi phải nghiên cứu ở tất cả mọi mặt của ngôn ngữ: mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến mặt từ vựng của phƣơng ngữ, không phân tích mặt ngữ âm và ngữ pháp. Tuy mỗi nhà nghiên cứu đều có cách định nghĩa riêng nhƣng quan điểm chung của các nhà từ vựng học, nhà phƣơng ngữ học và các từ điển đều không có sự khác biệt nào đáng kể. Tập hợp các ý kiến trên, ở luận văn này chúng tôi quan niệm: Từ địa phƣơng là những từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của nó là ở một địa phƣơng nhất định nào đó, địa phƣơng đó có thể là một vùng, một tỉnh, một huyện, thậm chí một làng.
Các dạng từ địa phương Theo Bùi Trọng Ngoãn trong bài giảng Từ vựng tiếng Việt trong hệ thống và trong sử dụng, có thể phân loại từ địa phƣơng thành ba dạng nhƣ sau [8, tr. 63-65]: - Không có từ tƣơng đƣơng ở các địa phƣơng khác. Chẳng hạn Nam Bộ có những từ nhƣ: “sạ”: gieo thẳng hạt giống lúa xuống ruộng nƣớc. “rộng”: thả cá trong chum vại để dành.
“ém”: ném vào hay nén xuống, không để lộ ra. Hoặc tên gọi những loại hoa trái nhƣ “sầu riêng”, “xoài tƣợng”,… - Có ý nghĩa giống với từ vựng toàn dân nhƣng khác về hình thức ngữ âm Ví dụ: Từ địa phƣơng Từ toàn dân - Bông điệp (Năm bộ) - Hoa phƣợng - Chộ (khu IV cũ) - Thấy - Ngái (khu IV cũ) - Xa - Mô (khu IV cũ) - Đâu - Có hình thức ngữ âm giống với từ vựng toàn dân nhƣng ý nghĩa lại hoàn toàn khác Ví dụ: Trong từ vựng toàn dân, “nón” là đồ dùng hình chop làm bằng lá để che đầu. Trong khi đó, ở Nam Bộ thì “nón” bao gồm cả mũ và nón hay là vật đội đầu nói chung. Từ địa phương Quảng Nam Chúng tôi trở lại với quan niệm về phƣơng ngữ Quảng Nam.
Đối với việc phân chia vùng phƣơng ngữ, Hoàng Thị Châu [2, tr.88, 89] đã chia tiếng Việt thành ba vùng phƣơng ngữ: - Phƣơng ngữ Bắc: Các tỉnh Bắc bộ. - Phƣơng ngữ Trung: Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. - Phƣơng ngữ Nam: Từ Đà Nẵng trở vào. Trong khi đó Phạm Văn Hảo [4, tr.13] lại chia theo cách nhƣ sau: - Phƣơng ngữ Bắc: gồm Bắc Bộ và Thanh Hóa.
- Phƣơng ngữ Trung: từ Nghệ An đến Bình Thuận. Phƣơng ngữ này chia làm hai vùng, gồm: a) Trung Bắc, từ Nghệ An đến hết Thừa Thiên; b) Trung Nam, từ Đà Nẵng trở vào đến hết Bình Thuận. - Phƣơng ngữ Nam: khu vực Nam Bộ còn lại. Trong phạm vi luận văn chúng tôi không bàn về sự phân chia này Trƣơng Thị Diễm trong Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc đã từng nhận định rằng “Ngôn ngữ là linh hồn của một dân tộc” [3, tr.1] và là linh hồn của mỗi vùng miền.
Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền có một đặc trƣng riêng trong đời sống văn hóa, trong cách nghĩ, trong cách nhận thức thế giới. “Đặc trƣng ấy ghi dấu ấn trong hoạt động xã hội, truyền thống văn hóa và thói quen sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng” [3, tr. Điều đó có nghĩa là thói quen sử dụng ngôn ngữ gắn bó mật thiết với bản sắc văn hóa và cách nhận thức hiện thực khách quan của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Từ địa phƣơng Quảng Nam cũng không nằm ngoài những quy luật chung đó.
Từ địa phƣơng Quảng Nam thuộc lớp khẩu ngữ, bình dị, gần gũi với đời sống sinh hoạt. Nói đến từ địa phƣơng Quảng Nam, chúng ta hình dung ra một thứ ngôn ngữ mang 9 nhiều sắc thái riêng của miền đất giàu truyền thống văn hóa, với những con ngƣời chất phác, thật thà, “ăn cục nói hòn”; nơi vừa có cái gì mới mẽ lạ lẫm, nhƣng cũng có cái gì hết sức thân thuộc nhƣ gốc rễ xa xƣa của tổ tiên còn đƣợc lƣu giữ và bảo tồn. Nguyễn Nhật Ánh và hai tác phẩm Quán gò đi lên, Ngồi khóc trên cây 1. Khái lược về Nguyễn Nhật Ánh Nguyễn Nhật Ánh vừa là tên thật cũng vừa là bút danh.
Ông sinh ngày 07/05/1955 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ, ông theo học tại các trƣờng Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ năm 1973, Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành Sƣ phạm. Ông đã từng đi thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Từ năm 1986 đến nay, ông là phóng viên và bình luận viên thể thao báo Sài Gòn Giải Phóng với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác nhƣ Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phƣơng Sóc, Sóc Phƣơng Đông,… Năm 13 tuổi, ông đăng báo bài thơ đầu tiên. Tác phẩm đầu tiên in thành sách là một tập thơ “Thành phố tháng tư” (NXB Tác phẩm mới, 1984, in chung với Lê Thị Kim). Năm 1985, ông cho ra mắt cuốn Trước vòng chung kết (NXB Măng Non, 1985).
Đây là tác phẩm truyện dài đầu tiên của ông. Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối đƣợc TW Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thƣởng Văn học Trẻ hạng A. Năm 1995, ông đƣợc bầu chọn là nhà văn đƣợc yêu thích nhất trong 20 năm (1975 – 1995) qua cuộc trƣng cầu ý kiến bạn đọc về các gƣơng mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi Trẻ. Đồng thời đƣợc Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu nhất trong 20 năm (1975 – 1995).
Năm 1998, ông đƣợc NXB Kim Đồng trao giải thƣởng cho nhà văn có sách bán chạy nhất. Năm 2003, bộ truyện nhiều tập Kính vạn hoa đƣợc TW Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chƣơng Vì thế hệ trẻ và đƣợc Hội nhà văn Việt Nam trao tặng giải thƣởng. 10 Năm 2008, Nguyễn Nhật Ánh xuất bản truyện có tên Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và gặt hái đƣợc nhiều thành công: đƣợc báo Ngƣời Lao động bình chọn là tác phẩm hay nhất năm 2008; giải Vàng sách hay của xuất bản Việt Nam năm 2009; giải thƣởng văn học Việt Nam 2010. Ngày 24/10/2010, cuốn Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh ra mắt độc giả.
Và cuốn sách mới nhất xuất bản ngày 06/03/2014 có tên Chúc một ngày tốt lành. Phong cách nghệ thuật Nhà văn của tuổi thơ Nguyễn Nhật Ánh thuộc số ít nhà văn thành công trong cả mảng truyện viết cho thiếu nhi và sách cho tuổi mới lớn. Viết cho thiếu nhi, đƣợc sống lại lần thứ hai với tuổi thơ của mình, những kỉ niệm tuổi thơ cứ sống dậy và tuôn trào theo ngòi bút của Nguyễn Nhật Ánh. Ông viết về cái đang diễn ra, cái quen thuộc trong thế giới tuổi trẻ hiện tại: những cuộc học, những cuộc chơi và những mối tình thơ dại.