Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG Những mạch nguồn văn học dân gian đã thấm đẫm và nuôi dưỡng bao cái hay, cái đẹp cho tâm hồn muôn triệu con người hôm qua, hôm nay và đến mãi mai sau. Qua bao năm tháng truyền thuyết gắn với các lễ hội dân gian đã đi vào đời sống tâm linh của những người con trên quê hương Kiến Thụy. Sức sống bền bỉ ấy được nảy sinh trên một nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội phong phú, đa dạng của địa phương. Tìm hiểu những yếu tố về kinh tế, văn hóa, xã hội trên giúp chúng ta phần nào lí giải được cội nguyền dân gian của truyền thuyết nói chung và truyền thuyết gắn với các lễ hội tại địa phương nói riêng.
Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa ở Kiến Thụy, Hải Phòng 1. Điều kiện tự nhiên Huyện Kiến Thụy nằm về phía Đông Nam và cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20 km. Huyện có diện tích là 10.753 héc - ta, gồm 18 đơn vị hành chính xã, thị trấn. Phía bắc và tây bắc huyện giáp quận Dương Kinh và quận Kiến An; phía đông và đông nam giáp quận Đồ Sơn và vịnh Bắc Bộ; phía nam và tây nam giáp huyện Tiên Lãng; tây giáp huyện An Lão.
Huyện lị đóng tại thị trấn Núi Đối. Từ xưa, do điều kiện tự nhiên thuận lợi, có đủ sông biển, núi đồi, gò đống, đồng bằng với nguồn nước mặn, nước lợ, nước ngọt dồi dào nên các cộng đồng cư dân Việt đã khai khẩn và sinh sống tập trung tại nhiều nơi trên mảnh đất này. Kiến Thụy là một huyện đồng bằng ven biển có cả sông và núi tạo nên nét riêng đặc biệt ở vùng duyên hải Bắc Bộ, nằm gọn trong đại nội chí tuyến. Nằm trong vành đai nhiệt đới, Kiến Thụy có nhiều kiểu thời tiết.
Hơn nữa biển có ảnh 13 hưởng toàn diện, mạnh mẽ và sâu sắc tới bản chất và đặc thù của các yếu tố tự nhiên khu vực, đặc biệt là ảnh hưởng tới khí hậu. Vùng đất ven biển này trong một năm chịu hai loại gió mùa: gió mùa đông (trùng với gió Đông Bắc) và gió mùa hạ (trùng với gió Đông Nam). Vì là huyện ven biển nên các loại gió khi ảnh hưởng đến Kiến Thụy có tốc độ khá lớn. Đây cũng là mảnh đất “đầu sóng ngọn gió”.
Huyện thường xuyên bị đe dọa và hứng chịu những cơn bão lớn trước khi đổ bộ vào đất liền. Cùng với sự đe dọa của thiên tai, mảnh đất này cũng là đất tiền tiêu, đối mặt với các cuộc xâm lăng của giặc phương Bắc theo đường biển. Huyện Kiến Thụy có địa thế phòng thủ biển cực kì quan trọng do có các cửa sông lớn đổ ra biển và bao trọn bán đảo Đồ Sơn. Nằm gần biển nên độ ẩm quanh năm tương đối cao 85%, ngay cả các tháng mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô lạnh độ ẩm vẫn xấp xỉ 80%, còn các tháng mùa hạ có thể đạt 85% - 90%.
Lượng mưa phong phú, trên 1600mm, lượng mưa phân bố tho mùa khá sâu sắc, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Sự luân phiên tranh chấp của các khối khí cơ bản khác nhau làm cho thời tiết và khí hậu thường xuyên bị biến động. Nằm trong địa phận hẹp và các thành tạo địa chất khá đơn giản, Kiến Thụy không có mỏ khoáng sản quan trọng nào, trừ các mỏ vật liệu xây dựng có quy mô nhỏ và nước ngầm trữ lượng hạn chế. Các sông lớn chảy qua huyện đều là những nhánh sông của hệ thống sông Thái Bình, có độ uốn khúc lớn.
Sông Văn Úc và nhánh sông Đa Độ phù sa đã hình thành nên một dải đồng bằng màu mỡ nhưng không lớn lắm. Đặc điểm kinh tế - xã hội Kiến Thụy là huyện ven biển, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản. Qua các thời kì thành phố luôn đầu tư mọi nguồn lực, kể cả cán bộ để xây dựng Kiến Thụy thành huyện có kinh tế - xã hội phát triển, an ninh quốc phòng 14 vững mạnh. Những năm đầu của thế kỉ XXI, kinh tế của huyện luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 13,8%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, nông nghiệp 27%, công nghiệp xây dựng 48%, dịch vụ 25%, văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ mới.
Kinh tế không ngừng phát triển, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,4 triệu đồng. Cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, hiện nay đang được đầu tư khá đồng bộ theo hướng đô thị hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tuy vậy, Kiến Thụy vẫn là một huyện kém phát triển về cơ cấu sản xuất kinh tế, dịch vụ. Sự giao lưu, kết nối về kinh tế, dịch vụ nghề biển, du lịch, sản xuất và thương mại của vùng đất này còn rất hạn chế.
Tuy nhiên, dường như đối lập với kinh tế, văn hóa dân gian, trong đó các truyền thuyết và lễ hội dân gian lại rất đa dạng, phong phú. Điều kiện lịch sử - văn hóa Kiến Thụy từ lâu đã được coi là mảnh đất địa linh nhân kiệt. Kiến Thụy được thiên nhiên ban tặng điều kiện đất đai trù phú, núi Đối, sông Đa quanh co uốn khúc tạo nên một vùng phong cảnh sơn thủy hữu tình. Con người Kiến Thụy cần mẫn mà sáng tạo, tự do phóng khoáng mà hiền hòa nhân ái.
Mảnh đất hội tụ khí thiêng sông núi này đã đi vào lịch sử của tất cả các thời kì cổ, trung, cận, hiện và đương đại không riêng gì của riêng thành phố cảng Hải Phòng mà của cả quê hương Việt Nam. Theo phả tích, Kiến Thụy xưa thuộc bộ Thang Tuyền thời Hùng Vương, một trong 15 bộ của nước Văn Lang; thời Tần thuộc Tượng Quận; thời Hán thuộc quận Giao Chỉ; thời Lý – Trần thuộc Hồng Lộ, sau gọi là Hải Đông. Năm 1469, Lê Thánh Tông cắt một phần đất huyện An Lão để lập huyện Nghi Dương; địa bàn huyện này tương ứng với địa bàn huyện Kiến Thụy, quận Đồ Sơn và phường Đồng Hòa của quận kiến An bây giờ. Đất huyện Nghi Dương chính là vùng đất 15 của huyện Kiến Thụy và 3 quận mới: Kiến An, Dương Kinh và Đồ Sơn ngày nay.
Năm 1837, vua Minh Mạng lập phủ Kiến Thụy gồm 3 huyện Nghi Dương, An Lão và An Dương. Thời Pháp thuộc, Kiến Thụy thuộc tỉnh Kiến An, những năm sau này Kiến Thụy lúc thì “se duyên” cùng An lão thành huyện An Thụy, rồi ẩn mình một thời trong huyện Đồ Sơn, đến năm 1988 lại trở về với tên gọi cũ có từ Nhà Nguyễn: Kiến Thụy. Năm 2008, một lần nữa huyện lại được chia tách thành Dương Kinh và Kiến Thụy bây giờ. Là vùng đất cổ, nên Kiến Thụy lưu giữ được nhiều lễ hội dân gian cũng là điều dễ hiểu.
Trong đó hội Đền Mõ ở xã Ngũ Phúc được coi là một trong những lễ hội nổi bật nhất của huyện. Đây là xã nằm ở cuối của huyện, giáp với các xã An Thái và An Thọ của huyện An Lão, cách huyện Tiên Lãng một chuyến đò qua sông Văn Úc. Trước năm 1945, Ngũ Phúc là trung tâm của tổng Nghi Dương (trùng với tên huyện cũ) gồm cả các xã Kiến Quốc và Du Lễ ngày nay. Hiện tại Ngũ Phúc có khoảng 6.500 nhân khẩu thì có tới 155 dòng họ, quây quần đầm ấm trong 5 thôn: Nghi Dương, Mai Dương, Xuân Chiếng, Xuân Đông và Xuân Đoài.
Không chỉ có đất thiêng, Kiến Thụy còn là nơi hội tụ của văn hóa và con người đặc sắc. Từ lâu, Kiến Thụy đã được coi là một trong những nơi du nhập đạo Phật sớm nhất nước ta, từ những thế kỉ trước Công nguyên với trung tâm Phật giáo Nê Lê (Đồ Sơn ngày nay). Tháp Tường Long do vua Lí Thánh tông (1023 - 1072), vị vua thứ 3 rất sùng đạo phật của triều Lí đứng ra chủ trì việc xây dựng. Tháp được khởi dựng năm 1058.
Vào thời Mạc với tên Dương Kinh, Kiến Thụy thời đó cũng là một trung tâm Phật giáo lớn. Kiến Thụy từ lâu đã là mảnh đất có truyền thống về văn hóa, học vấn và tri thức. Trải qua các thời đại cho tới ngày nay lúc nào Kiến Thụy cũng có người đỗ đạt cao, những học giả nổi tiếng. Thời phong kiến, huyện có 14 người đỗ tiến sĩ, trong đó có Bùi Đình Dự, người Nãi Sơn đỗ Đình nguyên Hoàng Giáp.
Kiến Thụy cũng là miền đất thượng võ mà biểu tượng là Trương Nữu, Vũ Hải, Mạc Đang 16 Dung, Vũ Hộ,… Nơi đây còn là căn cứ cuộc khởi nghĩa nông dân do Quận He – Nguyễn Hữu Cầu lãnh đạo chống lại triều đình Lê – Trịnh. Truyền thống chống giặc ngoại xâm là biểu hiện cao đẹp của ý thức dân tộc mà nhân dân Kiến Thụy hàng ngàn năm nay đã hun đúc, rèn luyện nên. Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm có mặt quan hệ chặt chẽ đến cả nước, đến vùng đất Hải Tần phòng thủ, song đáng ghi nhận là người Kiến Thụy luôn có mặt trên tuyến đầu ở nhiều thời điểm nóng bỏng của lịch sử. Kiến Thụy nổi danh với Kim Sơn kháng Nhật thắng lợi, nơi giành chính quyền về tay nhân dân sớm nhất vùng duyên hải Bắc Bộ (12/7/1945).
Quân dân Kiến Thụy trực tiếp góp phần cùng bộ đội chủ lực tỉnh Kiến An làm nên một chiến thắng Cát Bi rực lửa, phá hủy 59 máy bay của địch. Do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, quân và dân Kiến Thụy được nhà nước phong tăng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Từ một huyện nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, thiên tai uy hiếp thường xuyên, Đảng bộ và nhân dân huyện Kiến Thụy liên tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đoàn kết nhất trí, đồng tâm hiệp lực, lập nên nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Phát huy truyền thống anh hùng, toàn Đảng bộ và nhân dân Kiến Thụy đang ngày đêm nỗ lực, quyết tâm xây dựng quê hương ngày một phồn vinh, văn minh, hạnh phúc xứng đáng là quê hương Dương Kinh một thuở.
Một số vấn đề lí luận 1. Khái niệm Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều nước trên thế giới là hệ thống các thể loại vô cùng phong phú, phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức khác nhau. Kho tàng văn học ấy nhằm giải thích các 17 hiện tượng thiên nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên.