đặt vấn đề “Tại sao các vị thần Trung Quốc đƣợc thờ rộng rãi đến thế ở Việt Nam” và bà đã giải mã câu hỏi trên từ các bình diện nhƣ văn hóa, lịch sử, niềm tin và nhu cầu của nhân dân: “Sự hình thành của một truyền thuyết, sự phát sinh, tồn tại và phát triển của một tục thờ không đơn giản chỉ xuất phát từ niềm tin và nhu cầu của ngƣời dân mà còn chịu sự tác động đa chiều trong mối quan hệ chồng chéo trong lịch sử” [4, tr. Cũng năm 2009, bài viết của Trần Thị An là “Về ngôi đền thờ Tống Phi ở Phố Hiến, Hƣng Yên” đƣợc đăng trên Thông báo văn hoá. Bài viết này đã so sánh đền Mẫu Phố Hiến và đền Cờn, Quỳnh Lƣu, đồng thời đƣa ra quan điểm đền Mẫu và đền Cờn là sự kết nối truyền thuyết trên nền tín ngƣỡng thờ thần biển: “Chính từ cái nền tín ngƣỡng dân gian thờ thuỷ thần này mà truyền thuyết của hai vùng đã xích lại gần nhau” [5, tr. Đáng chú ý là ngày 15-16 tháng 6 năm 2009, Hội thảo khoa học Lễ hội đền Cờn, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương với văn hóa biển ở Việt Nam đã đƣợc tổ chức tại xã Quỳnh Phƣơng huyện Quỳnh lƣu tỉnh Nghệ An.
Trong hội thảo, các nhà khoa học nổi tiếng từ Trung ƣơng và địa phƣơng về tham dự với nhiều báo cáo khoa học có chất lƣợng đƣợc trình bày. Kết quả là Kỷ yếu hội thảo khoa học Lễ hội đền Cờn, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương với văn hóa biển ở Việt Nam đƣợc xuất bản vào năm 2010. Kỷ yếu dầy 370 trang, tập hợp 23 bài viết của các nhà nghiên cứu nhƣ Ninh Viết Giao, Trần Thị An, Nguyễn Xuân Đức…. trong đó phần lớn tác phẩm tập trung vào nơi thờ Tứ Vị Thánh Nƣơng khá tiêu biểu ở Việt Nam là đền Cờn, Nghệ An.
Trong kỉ yếu này, có những nghiên cứu tập trung và chứng minh quá trình biến thiên của truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nƣơng, có những nghiên cứu khác lại tiến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành miêu tả khá sâu về lễ hội đền Cờn và tiến hành bóc tách lớp văn hoá biển đền Cờn. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng đền Cờn (Nghệ An) – một đền nằm ở một ngôi làng ven biển là nơi phát tích và cũng là một trung tâm thờ cúng Tứ Vị Thánh Nƣơng. Những nghiên cứu này còn cho biết Tứ Vị Thánh Nƣơng đã nhanh chóng hóa thân thành những vị thần biển của Việt Nam và trở thành một trong số những vị thần đƣợc thờ cúng phổ biến ở nhiều làng quê ngƣời Việt. Những địa điểm thờ cúng Tứ Vị Thánh Nƣơng khác ở các địa phƣơng thuộc Bắc bộ, Trung bộ nhƣ Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng… cũng đã đƣợc những nhà nghiên cứu trong hội thảo quan tâm đề cập đến.
Bài “Đền Lộ ở Hà Nội với tín ngƣỡng thờ Tứ Vị Thánh Nƣơng” của thạc sĩ Võ Hoàng Lan bƣớc đầu tiến hành phân tích hiện tƣợng tín ngƣỡng thờ Tứ Vị Thánh Nƣơng ở Đền Lộ. Trong bài viết này, Võ Hoàng Lan có miêu tả truyền thuyết và lễ hội ở đền Lộ, nhƣng chƣa cụ thể và thực sự chi tiết. Những ý kiến đã nêu và bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về Tứ Vị Thánh Nƣơng là tiền đề thuận lợi giúp chúng tôi giải quyết vấn đề nghiên cứu mà luận văn này đặt ra. Đối tƣợng và phạm vi Đối tượng của đề tài: Truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết và lễ hội về Dƣơng Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc).
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Địa bản khảo sát và nghiên cứu chính là đền Lộ (Hà Nội), có mở rộng phạm vi nghiên cứu là điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc). Ngoài ra, chúng tôi tiến hành tìm kiếm, khảo sát nhằm chứng minh nguồn gốc truyền thuyết và lễ hội Tứ Vị Thánh Nƣơng thông qua hệ thống thƣ tịch Trung Quốc và Việt Nam hiện còn đƣợc lƣu giữ. Ngoài hoạt động chính là điều tra, điền dã tại đền Lộ (Hà Nội) và điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), chúng tôi còn quan tâm theo dõi một số nơi thờ Tứ Vị Thánh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nƣơng khác ở Việt Nam, đặc biệt là ở đền Cờn (Nghệ An), nơi đƣợc coi là điểm chính thờ Tứ Vị Thánh Nƣơng ở Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận văn này bao gồm: - Phƣơng pháp tra cứu tài liệu - Phƣơng pháp điền dã thực địa - Phƣơng pháp so sánh loại hình - Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành - Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
Mục tiêu của luận văn Mục tiêu của luận văn bao gồm: - Căn cứ vào các tƣ liệu điền dã, dựng lại truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội). - Qua việc so sánh truyền thuyết và lễ hội ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết và lễ hội ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) làm rõ những nét tƣơng đồng và khác biệt của chúng. - Làm rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết, lễ hội về Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội) và mối quan hệ giữa truyền thuyết, lễ hội về Dƣơng Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc). - Đƣa ra một số giá trị của truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với truyền thuyết và lễ hội về Dƣơng Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc).
Đóng góp của luận văn Luận văn có những đóng góp chính yếu sau: - Luận văn cung cấp nguồn tƣ liệu thực địa phong phú là kết quả của quá trình điền dã ở những di tích lịch sử nhà Tống. Tiến hành tìm kiếm, sƣu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tầm, tập hợp, nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống những sự tích liên quan đến truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nƣơng. - Luận văn thông qua việc so sánh truyền thuyết về Dƣơng Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) với truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội) để tìm ra những đặc điểm mang tính địa phƣơng trong truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nƣơng ở đền Lộ (Hà Nội). - Luận văn thông qua việc đối sánh với lễ hội điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), giới thiệu, miêu tả và phân tích lễ hội đền Lộ (Hà Nội) một cách cụ thể và toàn diện.
- Luận văn hƣớng đến giải quyết câu hỏi: Tại sao đền Lộ (Hà Nội) thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ lại thờ thần biển mặc dù xung quanh đó không hề có biển? - Luận văn hƣớng đến chứng minh quá trình lƣu truyền truyền thuyết và tổ chức lễ hội về Tứ Vị Thánh Nƣơng là một quá trình có động cơ và đầy tính sáng tạo. - Quá trình triển khai đề tài, chúng tôi chứng minh sự đúng đắn của phƣơng pháp nghiên cứu văn học dân gian hiện nay là gắn việc nghiên cứu văn bản (nghệ thuật ngôn từ) với môi trƣờng diễn xƣớng của tác phẩm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ VỊ THÁNH NƢƠNG Ở ĐỀN LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ DƢƠNG THÁI HẬU Ở ĐIỆN MẪU (TÂN HỘI, TRUNG QUỐC) 1.
Khái niệm truyền thuyết 1. Khái niệm truyền thuyết theo học giả Việt Nam Truyền thuyết ở Việt Nam có từ khá sớm, hình thành vào cuối thời kỳ công xã nguyên thủy. Tuy nhiên thuật ngữ truyền thuyết và việc giới thiệu nó ra đời lại khá muộn, vào khoảng giữa thế kỉ XX. Ngƣời đầu tiên đề cập đến truyền thuyết là Đào Duy Anh.
Khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết đời thƣợng cổ nƣớc ta” trên tạp chí Tri Tân, ông đã đề cập đến từ truyền thuyết: “Sách xƣa của ngƣời Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dƣơng Vƣơng để chiếm Tƣợng Quận, nhƣng cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đƣờng thì cũng còn lại kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có” [7, tr. Đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ “truyền thuyết” đã đƣợc sử dụng nhiều hơn. Định nghĩa đầu tiên về “truyền thuyết” có lẽ xuất hiện trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam. Khi xác định gianh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, các tác giả Nhóm Lê Qúy Đôn đã bƣớc đầu định nghĩa truyền thuyết nhƣ sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lƣu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì bảo đảm” [26, tr.
Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Bình Trị thừa nhận truyền thuyết là một thể loại và đã đƣa ra định nghĩa về nó: “Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu – là lịch sử hoang đƣờng – hoặc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là những truyện tƣởng tƣợng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [43, tr. Còn trong giáo trình của Đại học tổng hợp đƣợc viết và xuất bản từ năm 1962, Giáo sƣ Đinh Gia Khánh không thừa nhận có thể loại truyền thuyết mà chỉ coi đó là cổ tích lịch sử. Báo Nhân dân số 549 ngày 29 tháng 4 năm 1969 đăng bài “Nhân ngày Giỗ Tổ vua Hùng” của cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng. Bài báo đã nêu ra vấn đề mẫu chốt của truyền thuyết là mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thƣờng có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tƣởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tƣởng tƣợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con cháu còn ƣa thích” [29, tr.
Viết một cách khá công phu về truyền thuyết phải kể đến chuyên khảo Truyền thống anh hùng trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu Hoạch đƣợc công bố vào năm 1969, đây là một chuyên khảo khoa học đƣợc dƣ luận đồng tình và coi nhƣ một cái mốc đầu tiên trong việc nghiên cứu truyền thuyết nhƣ một thể loại của văn học dân gian.