Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa truyền thông của tác giả Vũ Thị Quỳnh Nga (Học viện Hành chính Quốc gia, 2024) tiếp cận vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa (DTLS-VH) dưới góc độ truyền thông ứng dụng tại địa bàn cấp huyện. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội tại Thủ đô Hà Nội có nhiều biến chuyển, việc bảo tồn các giá trị truyền thống song hành với khai thác tiềm năng văn hóa đòi hỏi sự tham gia của các hoạt động truyền thông hiện đại. Huyện Chương Mỹ là vùng đất ngoại thành phía Tây Nam Hà Nội (cách trung tâm khoảng 20 km), sở hữu kho tàng di sản phong phú với nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật và di tích lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, theo phản ánh trong văn bản, công tác thông tin, tuyên truyền về di tích trên địa bàn còn thiếu tính liên tục, sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn chưa đồng bộ, và hiệu quả đóng góp kinh tế từ di tích cho địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khảo sát thực trạng hoạt động truyền thông gắn với phát huy giá trị DTLS-VH tại huyện Chương Mỹ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng, quảng bá hình ảnh di tích và hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương. Để đạt mục đích này, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu các vấn đề lý luận về truyền thông phát huy giá trị DTLS-VH.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng truyền thông phát huy giá trị DTLS-VH trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
  3. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông phát huy giá trị DTLS-VH trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ hoạt động truyền thông gắn với việc phát huy giá trị DTLS-VH tại huyện Chương Mỹ. Phạm vi không gian giới hạn tại một số di tích tiêu biểu trên địa bàn huyện (tập trung khảo sát sâu chùa Trầm, chùa Trăm Gian và đình Tốt Động). Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự giao thoa giữa lý luận truyền thông học và lý luận quản lý di sản văn hóa:

  • Khái niệm và mô hình truyền thông: Tác giả tổng hợp quan điểm của Cartier và Hanoov (1950), Hober (1954), Andelsm (1959), Berelson và Steiner (1964) để đưa ra định nghĩa chung về truyền thông như một quá trình trao đổi thông tin, nhận thức và hành vi. Về mô hình, văn bản phân tích mô hình truyền thông một chiều của Harold D. Lasswell (1948) với 5 yếu tố (Source - Message - Channel - Receiver - Effect); mô hình thông tin hai chiều của Claude Shannon (1949) với việc bổ sung yếu tố Nhiễu (Noise) và Phản hồi (Feedback); và mô hình hội tụ của Kinkaid nhấn mạnh sự tương tác, chia sẻ thông tin liên tục giữa các chủ thể. Phân loại truyền thông được xem xét theo kênh (trực tiếp, gián tiếp), theo quy mô (cá nhân, nhóm, đại chúng) và theo tính mục đích (kinh nghiệm, có chủ đích, không chủ đích).
  • Lý luận về di tích lịch sử - văn hóa: Dẫn chiếu Luật Di sản văn hóa và tài liệu của Lưu Minh Trị (chủ biên), phân loại di tích thành 3 nhóm (di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ), nêu rõ 4 tiêu chí nhận diện và 4 nhóm ý nghĩa (lịch sử, văn hóa, khoa học, thực tiễn).
  • Khung phát huy giá trị di tích: Phân tích 7 giá trị cấu thành (lịch sử, văn hóa, khoa học, giáo dục, kiến trúc nghệ thuật, tâm linh tôn giáo, kinh tế) và các nguyên tắc phát huy (thấu hiểu giá trị, giáo dục - nhận thức, du lịch bền vững, tạo cơ hội kinh tế - xã hội, quản lý bền vững).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các công cụ thu thập và xử lý thông tin định tính lẫn định lượng:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu, thống kê: Thu thập số liệu thứ cấp từ các văn bản chỉ đạo, báo cáo hành chính của UBND huyện Chương Mỹ qua các năm.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận: Hệ thống hóa tài liệu học thuật và văn bản quản lý để xây dựng khung phân tích thực trạng.
  • Phương pháp khảo sát, điều tra bảng hỏi: Thiết kế phiếu hỏi trực tuyến phát hành qua các nền tảng mạng xã hội Facebook và Zalo hướng đến người dân địa phương nơi có di tích; thu về $n = 200$ phiếu hợp lệ phục vụ thống kê (Phụ lục 2.1).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn định tính học sinh tại một số trường Trung học phổ thông (Phụ lục 2.2) và cán bộ thuộc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trên địa bàn huyện Chương Mỹ (Phụ lục 2.3) nhằm làm rõ nhận thức và vai trò của thế hệ trẻ trong công tác bảo tồn di sản.

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm: Báo cáo số 199/BC-UBND ngày 28/3/2024 của UBND huyện Chương Mỹ; bộ tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội (Tập 6); Thư mục chuyên đề Địa chí Chương Mỹ (Thư viện Hà Nội biên soạn); bài viết của các nhà nghiên cứu cùng kết quả điều tra sơ cấp ($n = 200$ phiếu khảo sát và biên bản phỏng vấn sâu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa

Chương này dành cho việc xác lập hệ thống khái niệm công cụ và mối quan hệ bản chất giữa truyền thông và di sản văn hóa. Tác giả chỉ ra vai trò của truyền thông trên 4 bình diện: chính trị, công chúng, kinh tế, và văn hóa - xã hội. Đối với công tác phát huy giá trị di tích, truyền thông giữ 3 vai trò trung tâm: (1) Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị lịch sử và bản sắc địa phương; (2) Tạo lập sự cam kết, kích thích sự tham gia bảo vệ di tích của người dân; (3) Hoạt động như một công cụ xây dựng và định vị hình ảnh di tích nhằm thu hút du khách và tạo nguồn lực kinh tế. Chương 1 khẳng định phát huy giá trị di tích không chỉ là việc khai thác đơn thuần mà phải dựa trên nguyên tắc quản lý bền vững và giáo dục văn hóa.

Chương 2: Thực trạng truyền thông phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Chương 2 phân tích bối cảnh địa bàn và thực trạng triển khai hoạt động truyền thông về di tích tại huyện Chương Mỹ:

  • Đặc điểm địa bàn: Huyện có diện tích tự nhiên $237{,}38\text{ km}^2$ (lớn thứ 3 ngoại thành Hà Nội), dân số phân bố tại 32 đơn vị hành chính cấp xã (30 xã, 2 thị trấn). Địa hình phân hóa rõ rệt thành 3 vùng: vùng bán sơn địa (12 xã, thị trấn), vùng bãi ven sông Đáy (6 xã), và vùng đồng bằng trung tâm (15 xã). Hệ thống giao thông gồm Quốc lộ 6 ($18\text{ km}$), đường Hồ Chí Minh ($16{,}5\text{ km}$), đường đê Đáy và tỉnh lộ 419. Về kinh tế năm 2023, cơ cấu gồm công nghiệp 57,1%, dịch vụ 28,5%, nông nghiệp 14,4%; thu nhập bình quân đầu người đạt 74 triệu đồng/người/năm; $30/30$ xã đạt chuẩn nông thôn mới (11 xã nông thôn mới nâng cao, 01 xã kiểu mẫu).
  • Thực trạng di tích lịch sử - văn hóa: Số liệu kiểm kê theo Báo cáo số 199/BC-UBND ngày 28/3/2024 cho thấy Chương Mỹ đứng thứ ba toàn thành phố về số lượng di tích (sau Ứng Hòa và Thường Tín).
Nhóm danh mục di sản Số lượng Chi tiết phân loại theo văn bản
Di tích lịch sử - văn hóa đã xếp hạng & kiểm kê 374 di tích - 32 di tích quốc gia
- 142 di tích cấp tỉnh/thành phố
- 200 di tích đưa vào danh mục kiểm kê của TP năm 2016
Địa điểm gắn biển "Cách mạng kháng chiến" 11 địa điểm Các địa điểm ghi dấu sự kiện trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Di sản văn hóa phi vật thể kiểm kê 100 di sản - 01 di sản quốc gia (Lễ hội đình Lưu Xá - môn bơi chải tại xã Hòa Chính)
- 88 lễ hội truyền thống
- 04 tập quán xã hội
- 04 loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
- 03 nghề thủ công truyền thống
  • Phân tích 3 di tích khảo sát điển hình:
    1. Quần thể chùa Trầm (xã Phụng Châu): Xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962. Gồm núi Trầm, chùa Trầm, động Long Tiên (chùa Hang) và chùa Vô Vi. Di tích gắn với lễ hội mùng 2/2 Âm lịch và Tết Hạ Nguyên (15/10 Âm lịch). Về lịch sử cách mạng, đây là nơi đặt máy phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đêm 19/12/1946; nơi Bác về thăm 4 lần và thảo Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (1966); đồng thời là Sở chỉ huy K12 (1967-1975) của Quân chủng Phòng không - Không quân.
    2. Chùa Trăm Gian (xã Tiên Phương): Khởi dựng năm 1185 (niên hiệu Trinh Phù thứ 10, đời Lý Cao Tông), xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962. Thuộc hàng "tứ đại danh thắng xứ Đoài". Quần thể có quy mô 100 gian (tính theo công thức 4 góc cột là 1 gian), gác chuông 2 tầng dựng năm Quý Dậu (1693), chuông đúc năm 1794 khắc bài minh của Phạm Huy Ích, lưu giữ hơn 100 pho tượng phật gỗ sơn son thiếp vàng và 2 câu đối khảm trai thời nhà Hồ. Nơi đây thờ Đức Thánh Bối (Hòa thượng Bình An) và Đô đốc Đặng Tiến Đông.
    3. Đình Tốt Động (xã Tốt Động): Xếp hạng Di tích quốc gia năm 1985. Đình thờ hai danh tướng Lê Ngân và Đỗ Bí - những chỉ huy lập công tiêu diệt hơn 6 vạn quân Minh trong chiến thắng Tốt Động - Chúc Động năm 1426. Kiến trúc kiểu chữ "Nội công ngoại quốc", vì nóc chồng rường, hệ thống cột làm bằng gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu), các cốn điêu khắc đề tài "Long Ngư hý thủy", tứ linh, tứ quý.
  • Đánh giá hoạt động truyền thông và chủ thể thực hiện: Hệ thống truyền thông địa phương đã đạt được một số kết quả: Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao huyện phát sóng 90 chương trình phát thanh hàng ngày và chuyên đề (thời lượng 15-30 phút/chương trình); đăng tải gần 200 tin, bài về văn hóa - xã hội trên Cổng Thông tin điện tử huyện. Tuy nhiên, hoạt động truyền thông còn bộc lộ nhiều hạn chế: nội dung chưa đa dạng, hình thức truyền thông chưa hấp dẫn thế hệ trẻ, việc phối hợp giữa chính quyền cơ sở, nhà trường và Đoàn Thanh niên chưa tạo thành mạng lưới chặt chẽ; các dự án bảo tồn di tích còn chậm trễ về thủ tục và thiếu vốn đầu tư.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất hệ thống kiến nghị và giải pháp có tính tổ chức, phân chia cụ thể theo từng nhóm đối tượng:

  • Hệ thống kiến nghị theo chủ thể:
    • Đối với UBND huyện Chương Mỹ: Cần ban hành chính sách quản lý đồng bộ, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các dự án trùng tu, đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn đầu tư và phân công rõ trách nhiệm phối hợp giữa các phòng, ban chuyên môn (như Phòng Văn hóa và Thông tin).
    • Đối với các tổ chức xã hội: Tăng cường vai trò xung kích của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ và các đoàn thể địa phương trong việc tổ chức hoạt động tuyên truyền, bảo vệ cảnh quan di tích.
    • Đối với quần chúng nhân dân: Nâng cao ý thức cộng đồng trong việc giữ gìn trật tự, vệ sinh môi trường tại di tích, chủ động tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống của địa phương.
  • Nhóm giải pháp truyền thông:
    • Sáng tạo nội dung truyền thông có chất lượng: Đổi mới cách biên soạn thông tin, xây dựng tư liệu số (video, hình ảnh chất lượng cao, bài viết chuyên đề) làm nổi bật chiều sâu lịch sử và giá trị nghệ thuật của từng di tích.
    • Đẩy mạnh sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội: Khai thác ưu thế lan tỏa của Facebook, Zalo, Cổng thông tin điện tử và hệ thống phát thanh cơ sở để truyền dẫn thông điệp đến nhiều tầng lớp nhân dân.
    • Sử dụng công cụ đo lường hiệu quả: Thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ lượng tương tác, mức độ tiếp cận và phản hồi của công chúng đối với các sản phẩm truyền thông về di tích.
  • Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức:
    • Tăng cường công tác giáo dục: Đưa nội dung tìm hiểu di sản địa phương vào chương trình ngoại khóa tại các trường THPT và cơ sở giáo dục trên địa bàn; phối hợp tổ chức các buổi học thực tế, hành trình về nguồn tại các "địa chỉ đỏ" (như chùa Trầm, đình Tốt Động).
    • Tăng cường hoạt động kết nối cộng đồng: Tổ chức các sự kiện văn hóa, ngày hội truyền thống gắn với di tích nhằm thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên và người dân tham gia tương tác trực tiếp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố bức tranh dữ liệu cụ thể về hệ thống di sản văn hóa tại huyện Chương Mỹ:

  • Xác lập cơ sở dữ liệu di sản của huyện dựa trên Báo cáo 199/BC-UBND năm 2024: 374 di tích được kiểm kê, xếp hạng (32 cấp quốc gia, 142 cấp tỉnh, 200 di tích kiểm kê năm 2016); 11 địa điểm gắn biển di tích cách mạng kháng chiến; 100 di sản văn hóa phi vật thể (với 01 di sản quốc gia bơi chải đình Lưu Xá).
  • Đánh giá kênh truyền thông đại chúng địa phương qua chỉ số thực tế: phát sóng 90 chương trình truyền thanh và xuất bản gần 200 tin, bài văn hóa trên môi trường điện tử.
  • Thu thập và phân tích ý kiến sơ cấp từ $n = 200$ phiếu điều tra trực tuyến về nhận thức và mức độ quan tâm của cộng đồng đối với DTLS-VH địa phương.
  • Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về hoạt động truyền thông gắn với phát huy giá trị di tích trên địa bàn huyện Chương Mỹ. Đề tài khẳng định vai trò thiết yếu của truyền thông đa phương tiện trong bảo tồn di sản thời kỳ chuyển đổi số, đồng thời cung cấp gợi ý chính sách cho chính quyền địa phương trong việc kết hợp phát triển du lịch văn hóa với phát triển kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn thực tiễn được tác giả nhìn nhận:

  • Phạm vi khảo sát thực tế mới tập trung tại 3 điểm di tích đại diện (chùa Trầm, chùa Trăm Gian, đình Tốt Động), chưa bao quát toàn bộ 374 di tích trên địa bàn 32 xã, thị trấn của huyện Chương Mỹ.
  • Mẫu khảo sát định lượng ($n = 200$) được triển khai chủ yếu qua nền tảng trực tuyến (Facebook, Zalo), đối tượng phỏng vấn sâu tập trung vào học sinh THPT và cán bộ Đoàn Thanh niên, do đó mức độ đại diện cho các nhóm công chúng cao tuổi, khách du lịch thập phương và doanh nghiệp du lịch lữ hành còn hạn chế.
  • Hướng mở rộng tiếp theo là triển khai điều tra xã hội học diện rộng đối với khách du lịch vãng lai, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về mô hình số hóa 3D di tích và cơ chế hợp tác công - tư trong việc huy động vốn xã hội hóa cho truyền thông di sản.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa truyền thông, Quản lý văn hóa, Báo chí - Truyền thông, Quản lý xã hội và Du lịch học khi tìm kiếm mô hình kết hợp giữa lý thuyết truyền thông với quản lý di sản tại địa phương cấp huyện.
  • Cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao huyện Chương Mỹ và các huyện ngoại thành có điều kiện tương đồng trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền di sản.
  • Ban quản lý di tích cấp cơ sở và tổ chức Đoàn Thanh niên trong việc thiết kế hoạt động giáo dục ngoại khóa và xây dựng nội dung quảng bá di tích trên các nền tảng mạng xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Huyện Chương Mỹ hiện có bao nhiêu di tích và di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê, xếp hạng theo báo cáo chính thức?
Theo Báo cáo số 199/BC-UBND ngày 28/3/2024 được trích dẫn trong khóa luận, huyện Chương Mỹ có 374 di tích đã xếp hạng và đưa vào danh mục kiểm kê (gồm 32 di tích quốc gia, 142 di tích cấp tỉnh và 200 di tích trong danh mục kiểm kê của thành phố Hà Nội năm 2016), cùng 11 địa điểm gắn biển "Cách mạng kháng chiến". Toàn huyện có 100 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó Lễ hội đình Lưu Xá (môn bơi chải) tại xã Hòa Chính được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

2. Quần thể di tích chùa Trầm mang những dấu ấn lịch sử cách mạng đặc biệt nào trong hai cuộc kháng chiến?
Tại động Long Tiên (quần thể chùa Trầm), Đài Tiếng nói Việt Nam từng đặt cơ sở phát sóng máy móc từ Bạch Mai chuyển về, và chính nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12/1946 cùng bài thơ chúc Tết xuân Đinh Hợi (1947). Nơi đây vinh dự đón Bác Hồ về thăm 4 lần (lần cuối vào năm 1966 khi Người thảo Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước). Ngoài ra, trong kháng chiến chống Mỹ (1967-1975), núi Trầm là Sở chỉ huy K12 của Quân chủng Phòng không - Không quân.

3. Tác giả khóa luận đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa nào và quy mô dữ liệu ra sao?
Tác giả đã triển khai điều tra bảng hỏi bằng phiếu trực tuyến qua mạng xã hội Facebook và Zalo đối với cộng đồng dân cư địa phương có di tích, thu về 200 phiếu đạt yêu cầu để thống kê (Phụ lục 2.1). Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu học sinh tại một số trường THPT trên địa bàn huyện (Phụ lục 2.2) và một số cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Chương Mỹ (Phụ lục 2.3).

4. Chùa Trăm Gian có những đặc trưng kiến trúc và hiện vật lịch sử tiêu biểu nào?
Chùa Trăm Gian (xã Tiên Phương) được xây dựng từ thời Lý Cao Tông (1185), có quy mô kiến trúc độc đáo gồm 100 gian (cứ 4 góc cột tính là một gian). Chùa sở hữu gác chuông 2 tầng mái bằng gỗ dựng năm 1693 mang phong cách điêu khắc rồng xen mây lửa thế kỷ 17 - 18, quả chuông đúc năm 1794 khắc bài minh của Phạm Huy Ích, hơn 100 pho tượng thờ bằng gỗ quý sơn son thiếp vàng và 2 câu đối khảm trai tương truyền có từ thời nhà Hồ.

5. Những mô hình lý thuyết truyền thông nào đã được tác giả vận dụng để soi chiếu thực tiễn?
Khóa luận đã phân tích và vận dụng 3 mô hình truyền thông tiêu biểu: mô hình truyền thông tuyến tính 1 chiều của Harold D. Lasswell (1948 - Source, Message, Channel, Receiver, Effect); mô hình truyền thông 2 chiều của Claude Shannon (1949) có bổ sung yếu tố Nhiễu (Noise) và Phản hồi (Feedback); và mô hình truyền thông hội tụ của Kinkaid nhấn mạnh sự tương tác, chia sẻ thông tin hai chiều lặp đi lặp lại để đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Quỳnh Nga đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản và phác thảo bức tranh thực trạng di tích tại huyện Chương Mỹ thông qua các số liệu hành chính và khảo sát thực địa. Nghiên cứu chỉ ra những điểm nghẽn trong công tác thông tin, tuyên truyền cơ sở, từ đó kiến nghị đồng bộ các nhóm giải pháp từ đổi mới nội dung số, mở rộng kênh mạng xã hội đến tăng cường giáo dục học đường. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị tư liệu thực tế, phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý văn hóa và phát triển du lịch bền vững tại địa phương.