chương 1, phần những quy định chung đã phân chia rõ rang từng loại hình di san văn hóa thành 13 điểm lớn, trong đó, điểm 1 và 2 đã đưa ra định nghĩa Di sản văn hóa phi vật thể và Di sản văn hóa vật thê. Theo Luật Di sản văn hóa, Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu như sau: "Di sản văn hóa phi vật thé là san pham tinh than có giá tri lịch sử, van hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viét, dude luu truyền bằng truyén miéng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gôm tiêng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lỗi sông, nếp sông, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thông, tri thức về y, được học cỗ truyền, về văn hóa dm thực, về trang phục truyền thông dân tộc và những tri thức dân gian khác" Như vậy, lễ hội đã được Luật Di san văn hóa của Nhà nước Việt Nam công nhận là loại hình di sản văn hóa phi vật thể cùng với những thiết chế nhất định trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị mà nó hàm chứa. Lễ hội là một hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian, và chỉ là một phần rất nhỏ trong tong thé nền văn hóa dân gian. Trong những năm gần đây, đặc biệt ké từ sau năm 1986, khi đất nước chúng ta bước vào 11 hòa tan, vẫn giữ được bản sắc dân tộc vốn có, đó là cả một quá trình đầy khó khăn và nhiều thử thách.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đưa ra những phương hướng, những Nghị quyết phát triển văn hóa trong từng giai đoạn cụ thể. Và cùng với việc phát triển nhiều loại hình văn hóa khác nhau, lễ hội cũng đã trở thành một trong những đối tượng được chú ý nhiều từ những giá trị đích thực mà nó đưa lại. Hiện nay có nhiều tập tục, lễ hội đã và đang tiếp tục sống VỚI cộng đồng, có lễ hội đã trải qua nhiều biến cải, thêm bớt, lại có những lễ hội đã không còn hiện hữu trên thực tế mà chỉ lưu lại dấu ấn trong các thư tịch cổ hay trong ký ức của những người già. Cứ như vậy, theo vòng quay của thời gian, các chu trình của lễ hội quay vòng, tồn tại, phát triển.
trở thành một hoạt động văn hóa tổng hợp với các khả năng sáng tạo hiếm có. Trải qua không gian và thời gian, với những gì mà lễ hội đưa đến, chúng ta không thể phủ nhận rằng, lễ hội đã trở thành một hiện tượng văn hóa tổng hợp, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, đánh thức những giá trị nhân bản của con người nhiều khi đang còn "ngủ quên". Thêm một lần nữa chúng ta có thé khang định rằng, lễ hội luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống của con người, va it nhiều cũng tac động đến tâm tư, tình cảm của ho. Được sự quan tâm của Dang và Nhà nước cũng như sự hưởng ứng rộng rãi của xã hội, "trăm hoa đua nở", lễ hội diễn ra ở khắp mọi miền đất nước, từ miền xuôi cho đến miền ngược, từ đồng bằng cho đến miền núi, cao nguyên, trong khắp cộng đồng 54 dân tộc đang cùng chung sống, với những hoạt động tích cực và cả những tiêu cực khó tránh khỏi.
Chính vì lễ hội chứa đựng trong mình nhiều vấn đề 12 Báo chí với công tac phản ánh, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hôi truyền thon khoa học hấp dẫn và cần được nghiên cứu, nên ở luận văn này, bằng những kiến thức thu được từ sách vở và từ thực tiễn, chúng tôi sẽ cố gắng lý giải phần nào những câu hỏi: Tại sao lễ hội hiện nay lại được nhiều người quan tâm? Mối quan tâm đó được thể hiện như thế nào? Báo chí đã đóng góp công sức trong việc phản ánh, bảo tồn và phát huy các giá tri văn hóa của lề hội truyền thông ra sao?. Khái niệm chung về lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt tinh thần rất đặc biệt của con người: có quy mô to lớn về tầm vóc, có sức cuốn hút mạnh mẽ một số lượng lớn những người tham gia, gây được sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân. Không những thế, lễ hội truyền thống còn chứa đựng trong nó nhiều vấn đề khoa học hấp dẫn cần được nghiên cứu. Trong phần này, chúng tôi xin được phép đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc, sự phát triển, các điều kiện cấu thành lễ hội truyền thống.
Từ lâu, các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, bởi mỗi sự nghiên cứu đó lại tìm đến những mặt, những vấn đề, những khía cạnh khác nhau của lễ hội từng khu vực, đất nước, địa phương. Khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ hội ở nước Nga, một nhà nghiên cứu người Nga đã cho rằng: "Thực chất, lễ hội là cuộc sông được tái hiện dưới hình thức tê lễ và trò diễn, đó là cuộc sông lao động và chiên đâu của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thé thành lễ hội được nêu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thê giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thé giới của những phương tiện và điều kiện tất yêu. Đó là thê giới, là cuộc sông thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ déu trở nên dep dé, lung linh, siêu việt và cao ca".
7W 13 Bao chí với công tac phan ánh, bảo tồn và phat huy các gid trị van hoa cua lễ hội truyền thon Còn sau khi xem xét tính chất và ý nghĩa của lễ hội Nhật Bản, một vị giáo sư người Nhật lại định nghĩa: "Xét về tinh chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hôn, xét về tính chất văn hóa, lễ hội là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như mỹ thuật, nghệ thuật giải trí, kịch văn hóa và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển của văn hóa". Như vậy, cho dù có đứng ở khía cạnh nào, góc độ nào dé đưa ra định nghĩa về lễ hội, các nhà nghiên cứu đều tìm đến cái chung nhất, đó là, lễ hội là sinh hoạt văn hóa luôn gắn liền với đời sống tinh thần của con người; cộng đồng người. Trước đây, ở Việt Nam ta, chỉ có khái niệm Lễ hoặc Hội mà thôi, chưa có một khái niệm chính thức nào được công bố về lễ hội. Những khái niệm về lễ hội chỉ mới xuất hiện khoảng hai mươi năm trở lại đây với sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, tác giả trong nước.
Từ khi xuất hiện định nghĩa đầu tiên về lễ hội ở Việt Nam đến nay, không biết có bao nhiêu định nghĩa nữa đã ra đời, khó có thé nắm bắt được con số đó. Các định nghĩa đó đều có những cái đúng của nó, bởi mỗi tác giả đều đứng trên một khía cạnh, thời điểm, giai đoạn nào đó dé xét và từ đó đưa ra định nghĩa của mình. “Hội và Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam chúng ta. Hệ: và Lễ hội có sức hấp dẫn, lôi cuén các tang lớp trong xã hội dé trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ" - đó là định nghĩa khái niệm có tính tổng quát về lễ hội đã được các tác giả đưa ra trong cuốn Hội hè Việt Nam (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1990, tr 24) Trong cuốn Lễ hội cỗ truyền (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1992, tr 131), tác gia Phan Đăng Nhật cho rằng: "Lễ hội là một pho lịch sử không lô, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của 14 Bao chí với công tac phan anh, bảo tồn và phat huy các gia trị van hoá của lễ hội truyền thon đân tộc”, song song với định nghĩa này, một định nghĩa nữa cũng đồng thời được đưa ra: “Lễ hội còn là bảo tàng sông về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh than của người Việt.
Chúng đã sống, dang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuén hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất". Ở một đoạn khác, xét dưới một góc độ khác, chính vị tác giả này lại cho rằng: “Lễ hội là nơi bảo tôn, tích tụ văn hóa của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khú, dồn nén lại cho đương thời". Tuy nhiên, định nghĩa thứ hai vừa nêu cũng đồng nhất với định nghĩa thứ nhất của tác giả ở ý kiến "!ễ hội là một bảo tàng sông". Chỉ với riêng một mình tác giả này đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội, điều đó cho thấy, dé đưa đến một định nghĩa "chuẩn" về lễ hội là điều rất khó, mà thật ra là không thể có được, chúng ta chỉ có những cái "tương đối xác đáng" và gần với giá trị hiện thực vốn có của lễ hội truyền thống mà thôi.
Chính vì lẽ đó, ở đây, theo chúng tôi, ý kiến và định nghĩa của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Quý đưa ra trong hội thảo "Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại" khá khái quát và cô đọng: "Lễ hội truyền thông là một sinh hoạt tông hợp bao gồm các mặt: tỉnh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường. Đó còn là một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc, có sức cuỗn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sông xã hội" (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1994, tr 15) Từ những định nghĩa về lễ hội vừa được chúng tôi trích dẫn ở trên, cho thấy, chính trong khái niệm về lễ hội nó đã hàm chứa cả hai thành phần: Lễ và Hội. Hai thành phần này tuy khác biệt nhau ở nội hàm, tạo thành hai phạm trù riêng biệt nhưng lại luôn tôn tại song song, bố sung, hỗ trợ và hoàn thiện lẫn nhau, như hai mặt của một vấn đề, hợp nhất thành một sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tính cộng đồng hoàn chỉnh.