ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một dạng tài nguyên tài nguyên quan trọng của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Rừng không chỉ là một trong những cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng. Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu trình oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên trái đất, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm, làm giảm mức độ ô nhiễm không khí và nƣớc. Mặc dù, với nhiều vai trò quan trọng nhƣ vậy, nhƣng hiện nay, cùng với quá trình phát triển của loài ngƣời,diện tích rừng đang ngày càng bị thu hẹp hoặc bị chuyển đổi mục đích sử dụng, nghiêm trọng hơn là việc khai thác quá mức dẫn đến sự suy thoái chất lƣợng rừng.
Điện Biên là một tỉnh thuộc miền núi phía bắc và là một trong số các tỉnh có diện tích rừng lớn của Việt Nam.000 ha rừng và đất có rừng, tỉnh Điện Biên đƣợc đánh giá là địa bàn có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao. Ngoài giá trị về tính ĐDSH, Điện Biên còn có nhiều khu rừng đặc dụng có vai trò quan trọng. Trong đó rừng đặc dụng tại xã Mƣờng Phăng (còn đƣợc gọi là rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trƣờng Mƣờng Phăng) là khu rừng đặc dụng có diện tích lớn trong tỉnh và có ý nghĩa về mặt lịch sử và cảnh quan môi trƣờng. Với vị trí đầu nguồn, rừng có vai trò giữ nƣớc cho hồ Pá Khoang và cung cấp nƣớc quan trọng nhất cho cánh đồng Mƣờng Thanh.
Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biện Phủ (ĐBP) là công trình đƣợc công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia, đƣợc xây dựng trong khu rừng đặc dụng này từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp năm 1954. Trong nhiều năm gần đây, rừng đặc dụng Mƣờng Phăng đang bị tàn phá nghiêm trọng do hoạt động khai thác gỗ trái phép và săn bắt động vật quý hiếm cho mục đích thƣơng mại và du lịch. Bên cạnh đó, sự có mặt của khu di tích lịch sử Sở chỉ huy chiến dịch ĐBP đã thu hút nhiều lƣợt khách tham quan, cũng đang gây ra nhiều áp lực lên tài nguyên rừng nhƣ: cảnh quan môi trƣờng xung quanh 1 bị suy giảm, ô nhiễm môi trƣờng, khó khăn trong việc quản lý rừng. Ngoài ra, cộng đồng địa phƣơng chủ yếu là dân tộc thiểu số nên nhận thức của ngƣời dân về bảo vệ rừng còn hạn chế, vẫn còn tình trạng đốt rừng làm nƣơng rẫy, xâm lấn đất rừng để làm đất canh tác, trồng trọt, nên diện tích và chất lƣợng rừng tại đây đang bị suy giảm nghiêm trọng.
Trong khi đó, công tác truyền thông bảo vệ rừng tại địa phƣơng chƣa đƣợc quan tâm, chƣa có chƣơng trình truyền thông nào về vấn đề bảo vệ rừng. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, đồng thời mong muốn góp phần thay đổi và nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bảo vệ rừng, từ đó đi đến hành động bảo vệ và phát triển rừng, tôi đã thực hiện đề tài: “Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ rừng Di tích lịch sử và cảnh quan môi trƣờng tại Bản Phăng, xã Mƣờng Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rừng 1.
Khái niệm rừng Theo khoản 1, điều 3, Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm 2004, Rừng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó có cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên”. Ngoài ra, còn có nhiều khái niệm khác nhau về rừng nhƣ sau: Theo Morozov (1930), rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.Tcachenco (1952), rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài.MeLeKhop (1974), rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
Nhƣ vậy, định nghĩa một cách đơn giản, rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu; quần xã sinh vật phải tồn tại trong khoảng không gian có diện tích đủ lớn; giữa quần xã sinh vật và môi trƣờng, và giữa các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Phân loại rừng Theo điều 4, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng đƣợc phân thành ba loại: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Rừng phòng hộ Rừng phòng hộ đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trƣờng, bao gồm: - Rừng phòng hộ đầu nguồn; - Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; - Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; - Rừng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng. Rừng đặc dụng Rừng đặc dụng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trƣờng, bao gồm: - Vƣờn quốc gia; - Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; - Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; - Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Rừng sản xuất Rừng sản xuất đƣợc sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trƣờng, bao gồm: - Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; - Rừng sản xuất là rừng trồng; - Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận. Vai trò của rừng 1. Đối với môi trường a) Khí hậu Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng kể lƣợng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu. b) Đất đai Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dƣỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn đƣợc nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu đƣợc duy trì.
Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt. c) Tài nguyên khác Rừng điều tiết nƣớc, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nƣớc giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lƣợng nƣớc ngấm xuống đất và vào tầng nƣớc ngầm. Khắc phục đƣợc xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa đƣợc dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lƣợng nƣớc sông, nƣớc suối vào mùa khô, giảm lƣợng nƣớc sông suối vào mùa mƣa).
Rừng có vai trò rất lớn trong việc: Chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâm sản. Rừng là nơi cƣ trú của rất nhiều các loài động vật. Kinh tế a) Lâm sản Rừng cung cấp một sản lƣợng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt 5 hàng đa dạng và phong phú nhƣ trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống,.
cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại… b) Dƣợc liệu Rừng là nguồn dƣợc liệu vô giá. Từ ngàn xƣa, con ngƣời đã khai thác các sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe. Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dƣợc liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dƣợc liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phƣơng thuốc chữa bệnh nan y. c) Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững.
Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái đƣợc hình thành gắn liền với các vƣờn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt. Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thêm thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng. Thông qua đó, ngƣời dân gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng. Vai trò đối với xã hội a) Ổn định dân cƣ Cùng với rừng, ngƣời dân đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho ngƣời dân.
Giúp dân thấy đƣợc lợi ích của rừng, gắn bó với rừng hơn. Từ đó ngƣời dân sẽ ổn định nơi ở, sinh sống. b) Tạo nguồn thu nhập Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập cho ngƣời dân. Những lợi ích đem lại thu nhập từ rừng bao gồm: - Cây rừng đƣợc ngƣời dân khai thác làm nguyên, vật liệu thông qua hoạt động mua bán trao đổi giữa dân và các công ty, đại lý, nhà phân phối.
Không chỉ ở trong nƣớc, các sản phẩm còn đƣợc xuất khẩu ra thị trƣờng ngoài làm tăng giá trị sản phẩm.