Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp du lịch Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ phận truyền thông tại hai doanh nghiệp lữ hành Chương 3: Giải pháp trong việc tổ chức và triển khai các hoạt động của bộ phận truyền thông cho doanh nghiệp du lịch Việt Nam 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ Ý UẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TRUYỀN THÔNG TRONG DOANH NGHIỆP Ữ HÀNH 1.1 Bối cảnh chung về hoạt động của doanh nghiệp du lịch lữ hành 1.1 Khái niệm doanh nghiệp lữ hành trong hoạt động kinh doanh du lịch 1.1 Kinh doanh du lịch Luật du lịch Việt Nam (2010) định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [22,tr. Ngành du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu ngân sách quốc gia, thu hút vốn đầu tư và xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, ảnh hưởng tích cực đối với phát triển các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là ngành thủ công mỹ nghệ. Theo Luật Du lịch, kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sau đây: - Kinh doanh lữ hành - Kinh doanh lưu trú du lịch - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch - Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch - Kinh doanh dịch vụ du lịch khác 1.2 Kinh doanh lữ hành Một trong những thành phần có vai trò quan trọng bậc nhất, chiếm vị trí trung tâm đặc trưng cho ngành du lịch là bộ phận kinh doanh lữ hành, đóng vai trò phân phối sản phẩm của ngành du lịch nói riêng và cả các ngành kinh tế khách trong nền kinh tế quốc dân. Trong Luật Du lịch Việt Nam: “Lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch” [22,tr.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa này phân biệt hoạt động kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí, hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch. Kinh doanh lữ hành là loại hình kinh doanh đặc trưng nhất của ngành du lịch, bao gồm việc xây dựng các chương trình du lịch hấp dẫn, phân phối và tổ chức các chuyến du lịch với giá chương trình du lịch trọn gói giá rẻ hơn rất nhiều so với đi đơn lẻ. Tham gia trực tiếp kinh doanh lữ hành phải kể đến các công ty lữ hành, các trung tâm lữ hành và các đại lý lữ hành. Khách hàng có thể mua các sản phẩm du lịch bằng cách liên hệ trực tiếp với các công ty lữ hành, các trung tâm lữ hành hoặc liên hệ gián tiếp với chúng thông qua các đại lý lữ hành.
Có thể thấy vai trò của doanh nghiệp lữ hành trong hệ thống kênh phân phối trong du lịch như sau: Hình 1.1: Hệ thống kênh phân phối trong du lịch theo S.Wahab, Crampon và Rothfield [5, tr. 57] Theo mô hình trên, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành là cầu nối giữa các đơn vị kinh doanh dịch vụ như vận chuyển, khách sạn, điểm đến du lịch, vui chơi giải trí, mua sắm với khách du lịch, đưa sản phẩm đến khách hàng và đưa khách hàng đến với sản phẩm. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong sách Quản trị kinh doanh lữ hành, các tác giả đã định nghĩa định nghĩa “Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch. Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục vụ nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng” [14, tr 51-52].
Căn cứ vào quy định của Luật Du lịch Việt Nam, kinh doanh lữ hành có các loại: - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài - Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài - Kinh doanh lữ hành nội địa. Ngày nay, khách hàng thường sử dụng dịch vụ của các công ty lữ hành, các trung tâm lữ hành bởi các lý do sau: Chương trình du lịch thiết kế chi tiết sẽ giúp du khách tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc tìm kiếm thông tin, tổ chức chuyến du lịch. Họ chỉ phải chi trả mức giá thấp cho chuyến du lịch bởi các công ty lữ hành, các trung tâm lữ hành có khả năng giảm chi phí sản xuất do cung ứng dịch vụ hàng loạt và đàm phán với các nhà cung cấp dịch vụ khác (như các hãng hàng không, khách sạn…) để giảm giá dịch vụ. Họ có thể cảm nhận được phần nào sản phẩm trước khi mua bởi các ấn phẩm quảng cáo hoặc lời giới thiệu sản phẩm của các nhân viên bán hàng.2 Chủ trương, chính sách, pháp luật về hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành ở Việt Nam Sự kiện thành lập Công ty Du lịch Việt Nam theo Nghị định số 26/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 9/7/1960 đánh dấu sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam, ghi nhận sự khởi đầu của một ngành kinh tế được định hướng phát triển trên 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ sở khai thác, phát huy các giá trị tài nguyên của đất nước.
Tuy nhiên, sự chuyển biến và phát triển của ngành Du lịch Việt Nam được tính từ năm 1990 đến nay nên đây vẫn được coi là ngành kinh tế non trẻ. Trong những năm qua, với sự phát triển cả về chất và lượng, du lịch được Đảng và Nhà nước xác định là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mục tiêu: Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực. Quan điểm đó được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) khẳng định: „„Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” [38]. Các chủ trương, chính sách phát triển du lịch từng bước được thể chế hóa thông qua Luật Du lịch và hệ thống các văn bản hướng dẫn và các văn bản pháp lý liên quan; các nội dung Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch, Chương trình Xúc tiến du lịch quốc gia các giai đoạn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được thực hiện, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển du lịch cũng như xúc tiến du lịch, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội, các cấp, các ngành về hoạt động du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng.
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/12/2011, để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu CDP, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, những mục tiêu cụ thể được đặt ra là: - Xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam với các giá trị và sản phẩm du lịch khác biệt, độc đáo, có chất lượng, có sức cạnh tranh gắn với thị trường cụ thể; - Định vị Việt Nam là điểm đến du lịch hấp dẫn độc đáo ở Đông Nam Á dựa trên các giá trị thương hiệu chính và sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch di sản; du lịch biển, nghỉ dưỡng biển đảo; du lịch sinh thái, lựa chọn có ưu tiên marketing tại một số thị trường Châu Á và Châu Âu; 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thông qua các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về sự đa dạng của sản phẩm du lịch Việt Nam và các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng nhằm tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của khách, thu hút khách quay lại với nhiều trải nghiệm khác biệt, từ đó nâng cao thị phần tại các thị trường mục tiêu; - Tạo cơ hội hợp tác marketing du lịch giữa nhiều thành phần, đặc biệt là giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, tăng cường quan hệ đối tác công tư trong việc nâng cao hiệu quả và chuyên nghiệp hoá hoạt động marketing du lịch, hướng tới các phân đoạn thị trường đang tăng trưởng cao cũng như các thị trường mới nổi. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng nên chiến lược đầu tư cho du lịch cũng có nghĩa là đầu tư cho phát triển kinh tế và xã hội, góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới khai thác chiều sâu văn hóa và giá trị thiên nhiên hấp dẫn của Việt Nam làm nền tảng để xây dựng sản phẩm du lịch có chất lượng, giá trị cao, trở thành những thương hiệu du lịch nổi tiếng hấp đẫn du khách trong và ngoài nước.3 Sơ lược về diện mạo ngành du lịch lữ hành Việt Nam hiện nay Mặc dù ngành du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành ở Việt Nam còn khá non trẻ ở Việt Nam nhưng trong khoảng 10 năm trở lại đây, du lịch Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng cao, đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngành du lịch đóng góp 5,8% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo gần nửa triệu việc làm (chiếm 2,4% tổng số lao động trong nước) và hơn 50% của tổng xuất khẩu ngành dịch vụ. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, một thập kỷ qua, lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hàng năm đã tăng trung bình 8,9%, và mức tăng đối với lượt khách nội địa thậm chí còn cao hơn là 10,2% [39].
Với đặc thù là một ngành dịch vụ, kinh doanh du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những biến động chính trị - kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới.