Chương 1. Cơ sở lý luận về Truyền thông đại chúng với công tác thực hiện quyền trẻ em ở thành phố Thanh Hóa hiện nay. Vai trò của truyền thông đại chúng với công tác thực hiện quyền trẻ em ở thành phố Thanh Hóa hiện nay. Các yếu tố tác động; và đề xuất giải pháp tăng cường vai trò của truyền thông đại chúng thành phố Thanh Hóa với công tác thực hiện quyền trẻ em.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VỚI CÔNG TÁC THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm truyền thông đại chúng Truyền hông là một quá trình truyền đạt thông tin. Truyền thông (communication) là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính chất xã hội.
Ngay trong một bầy ong hay một bầy kiến cũng có truyền thông: đám ong thợ thường truyền đạt cho nhau những thông tin về loại hoa mà chúng tìm được cũng như về khoảng cách và phương hướng mà chúng phải rủ nhau bay tới để hút nhụy và đưa mật hoa về tổ. Trong xã hội loài người, truyền thông lại càng là một điều kiện tiên quyết để có thể hình thành nên một “xã hội” hoặc “cộng đồng”. Sở dĩ người ta có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác được với nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông. Người ta gọi đây là truyền thông liên cá nhân (interpersonal communication), nghĩa là truyền đạt thông tin giữa người này với người khác.
Sự truyền thông này trước hết được thể hiện thông qua lời nói hoặc chữ viết, tức là thông qua ngôn ngữ, nhưng cũng có thể thông qua cử chỉ, điệu bộ, hay hành vi để biểu tỏ thái độ hoặc cảm xúc. Vì thế, có thể có hai cách thức truyền thông: truyền thông bằng lời nói (verbal), và truyền thông không bằng lời nói (non-verbal). Người ta thường phân biệt ba loại truyền thông như sau: - Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác), - Truyền thông tập thể (tức là truyền thông trong nội bộ một cơ quan, một công ty, một tổ chức đoàn thể, hay một nhóm xã hội nào đó). - Và truyền thông đại chúng.
Vậy thế nào là truyền thông đại chúng? Trần Hữu Quang quan niệm rằng truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình. Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội, gồm ba thành tố: hoạt động truyền thông; các nhà truyền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thông bao gồm các tổ chức và những người làm công tác truyền thông và cuối cùng là đại chúng. Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình. Các phương tiện truyền thông đại chúng (hay cũng còn gọi là “các phương tiện thông tin đại chúng”) (mass media) là những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông tin ra mọi người dân trong xã hội.
Ở đây, chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa hai thuật ngữ “truyền thông đại chúng” và “phương tiện truyền thông đại chúng” mà người ta thường sử dụng lẫn lộn một cách không chính xác. Nói tới các “phương tiện truyền thông đại chúng” (mass media) như báo chí, phát thanh, truyền hình. là nói tới những công cụ kỹ thuật (hay những cái kênh) để nhờ đó người ta có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng. Còn khi nói tới “truyền thông đại chúng” (mass communication) là chúng ta muốn nói tới một quá trình xã hội: quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện ấy.
Chúng ta mở ti-vi xem cô phát thanh viên đọc một bản tin hoặc coi một trận đá banh: đó là một hành vi được gọi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng. Thế nhưng nếu chúng ta cũng mở màn hình ti-vi, nhưng lại để coi một cuốn băng video quay cảnh đám cưới của cô em gái trong gia đình, thì hành động này lại không thể được coi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng, bởi một lẽ đơn giản là cuốn băng này chỉ được quay và phát trong khuôn khổ sinh hoạt gia đình mà thôi. Nhưng nếu chúng ta xem một cuốn băng viđêô đám cưới của gia đình một diễn viên điện ảnh chẳng hạn được phát trên truyền hình, thì đấy lại là một hành vi nằm trong quá trình truyền thông đại chúng. Nói cách khác, điều mấu chốt trong việc xác định xem một hành vi có nằm trong quá trình truyền thông đại chúng hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 không không phải là cái màn hình ti-vi hay cái đầu máy video, mà là cần xem xét coi hành vi ấy có nằm trong quá trình truyền tải thông tin ra rộng rãi công chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hay không.
Người ta thường liệt kê các hoạt động sau đây nằm trong lĩnh vực truyền thông đại chúng: báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, sản xuất băng đĩa (âm nhạc chẳng hạn). Gần đây, chúng ta có thể kể thêm cả Internet. Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố sau đây: - Hoạt động truyền thông (chẳng hạn như đi săn tin, quay phim, chụp hình. rồi viết bài, biên tập, cuối cùng là xuất bản, hoặc phát sóng), - Các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình.
và những người làm công tác truyền thông như nhà báo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên.), - Và đại chúng (các tầng lớp công chúng rộng rãi) [14]. Trong lịch sử nghiên cứu đã có nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông đại chúng: Mai Quỳnh Nam quan niệm truyền thông đại chúng là toàn bộ những phương tiện lan truyền thông tin như báo chí, truyền hình, phát thanh. tới những nhóm công chúng lớn. Đặc điểm của các phương tiện truyền thông đại chúng là các tin tức từ hệ thống này được truyền đến công chúng một cách nhanh chóng, đều đặn và gián tiếp [11, tr.
Theo Tony Bilton, truyền thông đại chúng là những thiết chế sử dụng những phát triển kỹ thuật ngày càng tinh vi của công nghiệp để phục vụ sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 giao lưu tư tưởng, những mục đích thông tin, giải trí và thuyết phục tới đông đảo khán thính giả, cho dầu bằng phương tiện báo chí, truyền thanh truyền hình, sách, tạp chí, quảng cáo hay bất cứ gì đó [18, tr. Trong luận văn này, truyền thông đại chúng được hiểu là một quá trình xã hội được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật truyền thông đại chúng nhằm truyền đạt thông tin tới công chúng thuộc mọi thành phần xã hội, có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận thông tin, chịu ảnh hưởng từ những tác động thông tin đó. Truyền thông đại chúng với tư cách là một quá trình tương tác xã hội. Truyền thông đại chúng về công tác thực hiện quyền trẻ em là một quá trình tương tác xã hội thông qua các phương tiện kỹ thuật truyền thông đại chúng, giữa một bên là các cơ quan truyền thông với một bên là đông đảo công chúng để thông tin, xây dựng nên các quy chuẩn từ nhận thức thực hiện công tác thực hiện đến thái độ và hành vi thực hiện công tác trong thực tế theo pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế về quyền trẻ em, góp phần theo dõi về công tác thực hiện các quyền trẻ em một cách tốt nhất theo phương châm đủ và toàn diện.
Khái niệm quyền trẻ em Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì trẻ em “được xác định là người dưới 18 tuổi”. “Luật Trẻ em năm 2016 - Điều 1: Trẻ em” quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Khải niệm trẻ em trên thực tế được hiểu trên nhiều mặt, có nhiều khái niệm biểu thị về vấn đề trên, về mặt sinh học, trẻ em là con người thuộc giai đoạn từ tuổi sơ sinh đến dậy thì, hay còn biết tới là người chưa trưởng thành. Công ước quốc tế về quyền trẻ em, có hiệu lực quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990, bao gồm 54 điều khoản, được nhóm lại thành bốn nhóm quyền: nhóm quyền được sống; nhóm quyền được phát triển; nhóm quyền được bảo vệ; nhóm quyền được tham gia, phát biểu đối với các vấn đề có liên quan.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Cùng với đó, Công ước quốc tế về quyền trẻ em có bốn nguyên tắc cơ bản và có mối liên kết chặt chẽ, củng cố cho nhau: Một là: Không phân biệt đối xử: Đảm bảo mọi trẻ em được hưởng các quyền và các cơ hội ngang nhau, giảm sự phân biệt đối xử đối với cá nhân mỗi trẻ em và đối với các nhóm trẻ em. Hai là: Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em: bất cứ khi nào đưa ra các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ em thì bắt buộc phải đánh giá tác động của quyết định đó, phải được đặt lên hàng đầu, lên trên lợi ích của các đối tượng khác. Ba là: Sự sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em: Trẻ em hiển nhiên có quyền được sống và phát triển cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức, xã hội. Bốn là: Sự tham gia của trẻ em: Mọi trẻ em có quyền phát biểu ý kiến về những quyết định ảnh hưởng đến các em và những ý kiến của các em phải được tôn trọng.
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2016, trẻ em Việt Nam có 25 quyền cơ bản (Từ Điều 12 đến Điều 36, Luật trẻ em 2016), phát triển từ những bộ luật cũ, đây là kết quả nhóm họp của 15 quyền từ Công ước quốc tế về quyền trẻ em và căn cứ tình hình thực tiễn Việt Nam.