phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung luận văn này gồm ba chương chính: 12 Chƣơng 1: Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Sơn Nam. Chương này tập trung vào hai nội dung: Đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp văn học của Sơn Nam, vị trí của ông trên văn đàn văn học Việt Nam hiện đại. Những đóng góp của ông trên phương diện văn hóa, văn học mà chủ yếu ở các vấn đề tiêu biểu như thể loại, sự phát triển của ngôn ngữ văn học. Chƣơng 2: Hình tƣợng nhân vật trong truyện ngắn Sơn Nam.
Chương này tập trung vào hai nội dung chính: Khắc họa chân dung “người đi mở cõi” với dòng máu phiêu lưu, kiếm tìm, khai phá vùng đất mới nhưng cũng canh cánh bên lòng nỗi niềm thương nhớ quê hương, đất nước. Bên cạnh đó, ở chương hai này, chúng tôi cũng tìm hiểu“cốt cách Nam Bộ” trong truyện ngắn Sơn Namthể hiện qua tinh thần trọng nghĩa khí, hào hiệp và cũng rất nhân hậu, vị tha, lạc quan trong cuộc sống mưu sinh. Chƣơng 3: Hƣơng sắc Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam. Nội dung chương này đi sâu vào tìm hiểu sự đa dạng, muôn màu muôn sắc của bức tranh thiên nhiên và nét đặc sắc riêng trong văn hóa tinh thần của người dân miền Tây Nam Bộ thể hiện qua các truyện ngắn.
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC CỦA SƠN NAM 1. Cuộc đời của nhà văn Sơn Nam 1. Vài dòng tiểu sử Sơn Nam tên thật Phạm Minh Tài (một số tài liệu ghi Phạm Minh Tày). Ông sinh ngày 11.1926, nguyên quán làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).
Bút hiệu Sơn Namđược sử dụng khi ông công tác tại phòng Văn nghệ ban Tuyên huấn xứ ủy Nam Bộ. Ông lấy bút danh này để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu. Người vú nuôi gốc Miên này mang họ Sơn. Đó là một dòng họ lớn của người Khmer.
Còn chữNam là để nhắc nhở mình là người phương Nam. Ngoài ra, Sơn Nam còn là một địa danh lịch sử ở nước ta, có từ thời nhà Trần. Sơn Nam sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Tổ tiên của gia đình nhà văn ở Cù lao Ông Chưởng (An Giang), giữa một vùng sông nước trù phú với nhiều trái cây tôm cá.
Xuất thân từ một gia đình lao động, theo chủ trương khẩn đất tự do của thực dân Pháp từ đầu thế kỷ trước, ông nội của Sơn Nam đã đưa cả gia đình từ cù lao Ông Chưởng ở Long Xuyên qua Rạch Giá đến Cù Là rồi xuống tận U Minh. Đây là vùng “đất quá úng”, khó có thể canh tác, lại chưa “có dân lưu tán” đến khai phá. Vào nămSơn Nam lên 6 tuổi, gia đình lại tiếp tục di chuyển lần nữa, đến vùng “Tứ giác Long Xuyên” để khẩn hoang. Vùng đất mới cũng thấp, quanh năm lũ lụt, nước nhiễm phèn nặng, chỉ có vài gia đình Khmer sống co cụm dọc theo mé biển trên các giồng đất cao ráo.
Sơn Nam lớn lên và trưởng thành trong môi trường mới, nơi có những con người giàu nghị lực, mạnh mẽ, kiên cường. Họ cần cù từng ngày, từng giờ để khai khẩn đất hoang, cải tạo những vùng đất hoang sơ thành bờ bãi cây trái sum suê. Nhờ đó, ngay từ nhỏ, Sơn Nam đã có sự hiểu biết, có lòng yêu mến và tự hào về lịch sử khẩn hoang hào hùng, kì vĩ của dân tộc ta. Thuở thiếu thời, Sơn Nam đi học tiểu học ở Rạch Giá.
Tuổi thơ của ông gắn bó với mảnh đất thơ mộng nhưng đượm buồn. Có lẽ vì thế nên các tác phẩm của nhà văn này luôn lấp lánh vẻ đẹp đôn hậu, chất phác của con người và thiên nhiên hoang sơ vùng châu thổ. Sau đó, Sơn Nam học tại trường trung học Phan Thanh Giản ở Cần Thơ.Sơn Nam kể rằng khi ông thi đậu vào trường công lập ở Cần Thơ, cha ông đã quyết định bán cảbộ lư hương thờ (vốn là đồ gia bảo)để có 14 tiền cho con ăn học. Đây là bước ngoặt trong cuộc đời ông.
Trong hồi ký của mình, ông viết: “Nếu không đi Cần Thơ, lòng yêu tổ quốc của tôi chỉ mong manh, quanh quẩn mấy gốc tràm với con cá lóc nướng trui và vài câu hát”. Trong thời gian học tại Cần Thơ, ông được tiếp cận với các tác phẩm văn chương của Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy,… được đọc văn thơ củaChế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Huy Cận. Các tác phẩm văn chương nàyđã để lạidấu ấn sâu sắc trong tâm hồn Sơn Nam. Trong Hồi ký, ông nhớ lại:“Tôi đã hiểu tại sao lúc gạo châu củi quế mà Thi nhân Việt Nam bán giá cao đã thu hút độc giả.
Một cuộc tính sổ của giai đoạn thực dân. Tôi nhớ ở trường Trung học Cần Thơ học sinh chỉ mua chừng mươi cuốn, chuyền tay nhau mà đọc. Đọc rồi chép. Lứa trẻ luôn luôn lãng mạn, hâm mộ cả người làm thơ.
Trong Thi nhân Việt Nam ghi tiểu sử, với ảnh, địa chỉ các nhà thơ, vài bạn thử gởi thơ làm quen, nói chung các thi nhân trả lời rất nhã nhặn”[36, tr. Bước đường hoạt động cách mạng của nhà văn Sơn Nam Những năm học trung học, ông đã chứng kiện nhiều sự kiện diễn ra ở mảnh đất Tây Đô. Ông tận mắt thấy cảnh thực dân Pháp đàn áp, bắt bớ những người yêu nước; vụ hành quyết thầy giáo yêu nước Phan Ngọc Hiển, phát xít Nhật đảo chính Pháp,… Tất cả đã khiến nhà văn suy nghĩ nhiều về thời cuộc bấy giờ.Sơn Nam đi theo cách mạng bằng lòng căm thù giặc, tình yêu quê hương đất nước sâu sắc và ông tham gia kháng chiến không phải bằng cách cầm súng mà bằng ngòi bút của mình. Năm 1945, Sơn Namhọc xong bậc trung học.
Với tấm bằng thành chung, ông dự định về lại Rạch Giá để xin việc làm. Nhưng đâycũng là lúc cách mạng tháng Tám nổ ra. Sơn Nam tham gia tổ chức Thanh niên tiền phong, cùng nhân dân cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp.Ông được cách mạng giao nhiều trọng trách trong các cơ quan, đoàn thể như Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư tỉnh đoàn thanh niên Rạch Giá. Về sau, ông chuyển sang công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh rồi về Phòng Chính trị quân khu IX.
Năm 1950, ông được chuyển về Phòng văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn. Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết (1954), ông rời quê Rạch Giá lên Sài Gòn. Theo sự phân công của tổ chức, Sơn Nam ở lại trong lòng địch, cùng các nhà văn khác như Viễn Phương, Ngọc Linh, Lý Văn Sâm, Dương Tử Quang, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa,… Ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực báo 15 chí văn chương, viết bài cho các tờCông lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống, Nhân loại,… Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm công bố luật 10/59 tăng cường khủng bố các phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ thống nhất đất nước, đàn áp những người kháng chiến cũ, Sơn Nam cũng như nhiều nhà văn khác bị bắt và bị giam tại nhà tù Phú Lợi (Thủ Dầu Một, Bình Dương) gần hai năm (1960- 1961). Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ, chuẩn bị cho sự ra đời của những tác phẩm dài hơi.
Lúc này ông chuyển sang viết về đề tài dã sử. Đây là cách để né tránh sự đàn áp của chính quyền mà vẫn gửi gắm được tình cảm yêu nước và ngợi ca chí khí dân tộc. Năm 1974, Sơn Nam lại bị nhà cầm quyền bắt giam thêm một lần nữa. Ông bị tù đày, tra tấn vì tham gia sự kiện “Ký giả đi ăn mày” để phản đối chính quyền Mỹ - Ngụy.
Ông bị bắt nhốt suốt mấy tháng trời; sau đó cùng những người bạn tù phá cửa ngục thoát ra trong ngày giải phóng miền Nam. Sau năm 1975, Sơn Nam vẫn bền bỉ hoạt động trên lĩnh vực văn nghệ. Ông viết nhiều sách khảo cứu về vùng đất phương Nam và được coi là nhà “Nam Bộ học” có uy tín. Sơn Namcho rằng “Lịch sử Nam Bộ là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kì và tự lực.
Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi, chảy trong huyết quản và từng hơi thở của tôi. Đời ông nội với đời cha tôi lo khẩn hoang mở đất, nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất là sở trường của tôi (…) Tôi định hướng ngay từ đầu đến với nghề viết: viết về cuộc khẩn hoang miền Nam. Cả đời tôi đi theo định hướng đó và bây giờ vẫn tiếp tục. Định hướng như vậy vì tôi đã sinh ra, lớn lên và sống ở vùng U Minh”[59, tr.
Đi nhiều và ghi nhận đầy đủ, tìm hiểu kỹ càng nên dường như bất cứ một điều gì, một sự vật hiện tượng nào của Nam Bộ, Sơn Nam cũng đều rành rọt. Ông hiểu về Sài Gòn Gia Định, về Nam Bộ đến từng chân tơ kẻ tóc. Ông là vị cố vấn đáng tin cậy cho nhiều công trình nghiên cứu, văn hóa nghệ thuật liên quan đến mảnh đất miền Nam. Ông từng làm cố vấn về văn hóa cho hãng phim truyền hình HTV; từng theo các đoàn làm phim đến nhiều nơi; tham gia hội đồng biên tập tạp chí Xưa và Nay, cộng tác viên các báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn Giải Phóng,… Sơn Nam là nhà văn tài hoa, dồi dào sức sáng tạo, là nhà nghiên cứu uyên thâm, nghiêm cẩn, cần mẫn, có nhiều đóng góp cho nền văn học, học thuật nước nhà.
16 Năm 2005, sau một tai nạn giao thông, Sơn Nam phải ngồi xe lăn và việc viết văn suy giảm đáng kể. Ông mất vào ngày 13. Sự ra đi của ông đã để lại nỗi tiếc thương vô hạn đối với người thân, bạn bè và những người yêu văn trên khắp mọi miền nước. Sơn Nam là một nhà văn yêu nước thiết tha.
Điều này thể hiện rất rõ trong tác phẩm của ông. Quê hương đất nước là mộtnội dung quan trọng, xuyên suốt trong mọi sáng tác của nhà văn này. Có thể dễ dàng tìm thấy tư tưởng, tình cảm này trong truyện ngắn,truyện dài, hồi ký, bút ký và cả trong khảo luận, tạp văn… Đối với người Việt Nam, một điều hiển nhiên là tình cảm yêu nước phải được thể hiện bằng hành động. Tuy vậy, vì cuộc sống vốn muôn màu cho nên cũng có nhiều cách để chứng tỏ lòng yêu nước.
Trong tác phẩm của Sơn Nam, ta ít thấy hình tượng “người yêu nước” trực tiếp tham gia cầm súng chiến đấu.