CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM 1. Lý luận chung về bảo hiểm 1. Khái niệm về bảo hiểm Bảo hiểm được vận hành trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là lấy các khoản tiền do toàn bộ người được bảo hiểm đóng góp bồi thường cho một số người trong số họ gặp rủi ro.
Mục đích cơ bản của bảo hiểm là nhằm bảo đảm bù đắp những tổn thất do những rủi ro mà cá nhân hay tổ chức gặp phải, góp phần ổn định hoạt động của mỗi cá nhân, tổ chức đó. Với chức năng này, bảo hiểm đã có những tác động tích cực đến nền kinh tế, giúp cho các nạn nhân gặp tai nạn hay ốm đau không còn là gánh nặng của cộng đồng và duy trì mức sống của họ. Giúp các doanh nghiệp khôi phục được hoạt động sau khi có tổn thất, ổn định được công ăn việc làm, hoạt động sản xuất. Bảo hiểm chính là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng hiện nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về bảo hiểm. Dưới góc độ tài chính: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi Dưới góc độ pháp lý: Bảo hiểm là một nghiệp vụ trong đó một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo Luật Thống kê. Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế 4 này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Tuy nhiên chung nhất, có thể hiểu bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba.
Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy Luật Thống kê. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 thì kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Theo quy định tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2010, các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ bao gồm: - Bảo hiểm trọn đời; - Bảo hiểm sinh kỳ; - Bảo hiểm tử kỳ; - Bảo hiểm hỗn hợp; - Bảo hiểm trả tiền định kỳ; - Bảo hiểm liên kết đầu tư; - Bảo hiểm hưu trí. Nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ cũng khá đa dạng.
Theo quy định tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 thì 5 nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ như sau: - Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; - Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển - Bảo hiểm hàng không; - Bảo hiểm xe cơ giới; - Bảo hiểm cháy, nổ; - Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; - Bảo hiểm trách nhiệm; - Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; - Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; - Bảo hiểm nông nghiệp - Bảo hiểm tai nạn con người và chăm sóc sức khoẻ. Các nguyên tắc bảo hiểm Bảo hiểm là một ngành đặc thù và tuân theo một số nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như doanh nghiệp bảo hiểm, đó là: a) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối Nguyên tắc đầu tiên khi tham gia bảo hiểm là bên mua bảo hiểm phải trung thực tuyệt đối trong việc cung cấp thông tin cho DNBH. Tất cả các giao dịch kinh doanh cần thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau. Vì sản phẩm bảo hiểm có tính khá đặc thù, là sản phẩm mang tính trừu tượng thể hiện ở việc tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều hoàn toàn không thể biết trước được sản phẩm mà hai bên thỏa thuận mua bán có hình thành trong tương lai hay không.
Tức là, DNBH không thể biết được trách nhiệm của mình đối với sản phẩm mình bán ra có phát sinh hay không, ngược lại, bên được bảo hiểm cũng không thể biết được tài sản mình mua bảo hiểm có thể bị tổn thất hay không. Như vậy, khác với các giao dịch mua bán thông thường có đối tượn g mua bán 6 là hàng hóa, các bên có thể nhìn thấy được hàng hóa mà mình tham gia mua bán để đánh giá chất lượng và giá cả của hàng hóa. Trong bảo hiểm, người mua chỉ nhận được bồi thường phụ thuộc vào việc rủi ro có xảy ra hay không trong tương lai, và có trong phạm vi bảo hiểm mà hai bên cam kết hay không. Chất lượng sản phẩm bảo hiểm có bảo đảm hay không, giá cả (phí bảo hiểm) có hợp lý hay không, quyền lợi của người bảo hiểm có được đầy đủ, công bằng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự trung thực của người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm.
Nói cách khác, bất kỳ khách hàng nào cũng đều muốn có phí bảo hiểm thấp và được bảo vệ tối đa. Nhu cầu này sẽ được đáp ứng một cách tối ưu nếu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi thường chính xác khi có khiếu nại hợp lệ, điều đó chỉ được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc trung thực tuyệt đối. b) Nguyên tắc giới hạn bồi thường Mục đích của bảo hiểm là khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm (đối với bảo hiểm phi nhân thọ) hoặc trả tiền bảo hiểm theo cam kết tại hợp đồng bảo hiểm (đối với bảo hiểm nhân thọ) ngay sau khi tổn thất xảy ra. Sự khôi phục/trả tiền này được gọi là bồi thường/trả tiền bảo hiểm (gọi chung là bồi thường).
“Bồi thường” đóng vai trò hết sức quan trọng, nó xác định phạm vi trách nhiệm tài chính của DNBH, với mục đích hoàn trả cho người được bảo hiểm những gì đã mất do việc tài sản bảo hiểm gặp tổn thất trong phạm vi rủi ro được bảo hiểm. Bồi thường được coi là sự đền bù chính xác về tài chính, đủ để khôi phục tình trạng tài chính ban đầu của người được bảo hiểm như trước khi xảy ra tổn thất. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, số tiền mà DNBH trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá giới hạn trách nhiệm đã cam kết. Điều này cũng có nghĩa rằng, người tham gia bảo hiểm tài sản không được kiếm lời qua con đường bảo hiểm, người được bảo hiểm chỉ được bồi thường bằng những gì 7 mình đã mất chứ không thể nhiều hơn những gì đã mất.
c) Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tượng được bảo hiểm và được pháp luật công nhận. Mối quan hệ đó biểu hiện quyền sở hữu, chiếm hữu, định đoạt, sử dụng tài sản được bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm không thể mua bảo hiểm cho ngôi nhà của ông hàng xóm để trong trường hợp ngôi nhà bị hỏa hoạn, bên mua bảo hiểm nhận được tiền bồi thường từ DNBH. Đó là hình thức thu lợi bất hợp pháp.
Tương tự, đối với bảo hiểm con người, quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng,. của bên mua bảo hiểm đối với người được bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm không thể mua bảo hiểm cho bố/mẹ/vợ/chồng/con. đã chết vì lúc này không tồn tại quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.
Hoặc bên mua bảo hiểm không thể mua bảo hiểm tai nạn để nhận bồi thường từ DNBH cho đôi chân bị thương tật trong khi bên mua bảo hiểm đã bị cụt cả 2 chân,. Nguyên tắc về lợi ích bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng bảo hiểm cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại, tổn thất để thu lợi từ đơn bảo hiểm. d) Nguyên tắc bảo hiểm một rủi ro chứ không bảo hiểm một sự chắc chắn Nguyên tắc này thể hiện người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm một rủi ro tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai họa, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không phải bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra. e) Nguyên tắc thế quyền Theo nguyên tắc này, người bảo hiểm, sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba 8 có trách nhiệm, bồi thường cho mình.
Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ.cần thiết cho người bảo hiểm (trích dẫn Hoàng Văn Châu 2006). Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm để đổi lại họ được quyền thu những khoản phí nhất định từ người mua bảo hiểm. Khi DNBH thu phí của bên mua bảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc DNBH sẽ phải gánh chịu một mức trách nhiệm đối với người được bảo hiểm tương ứng mức phí bảo hiểm đã thu. Đây là yếu tố để chứng minh rằng, quan hệ kinh doanh bảo hiểm là quan hệ xã hội mang tính chất song vụ, quyền lợi bên này cũng chính là nghĩa vụ của bê n kia và ngược lại.
Tham gia vào quan hệ bảo hiểm, các bên nhằm mục đích hợp tác với nhau để đạt được những lợi ích nhất định.