Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn Ở Việt Nam Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở việt nam hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Khái niệm, mục đích, nội dung và hình thức Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.2. Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.3. Mục đích của việc TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.4. Nội dung và hình thức của TGPL cho phụ nữ nông thôn

1.5. Đặc điểm cơ bản của phụ nữ nông thôn và TGPL đối với phụ nữ nông thôn ở VN

1.5.1. Đặc điểm của Phụ nữ nông thôn

1.5.2. Đặc điểm của TGPL đối với Phụ nữ nói chung và PN nông thôn nói riêng

1.6. Các yếu tố tác động đến việc cần phải TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam

1.6.1. Yếu tố về văn hóa, phong tục, tập quán

1.6.2. Yếu tố về kinh tế, lao động, xã hội

1.6.3. Yếu tố về nhận thức pháp luật của phụ nữ nông thôn

1.6.4. Yếu tố về năng lực của chủ thể TGPL cho phụ nữ nông thôn

1.7. Các điều kiện để đảm bảo cho hoạt động TGPL

1.7.1. Điều kiện về nguyên tắc hoạt động TGPL

1.7.2. Điều kiện về tài chính

1.7.3. Điều kiện về con người, năng lực, kỹ năng của chủ thể TGPL

1.7.4. Điều kiện về cơ sở trang thiết bị vật chất

1.8. Các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ đối với đối tượng được TGPL và chủ thể TGPL

1.9. Một số mô hình TGPL trên Thế giới hiện nay liên quan đến đối tượng là phụ nữ và phụ nữ nông thôn

1.10. Chủ thể thực hiện TGPL

1.11. Đối tượng được TGPL

1.12. Phạm vi TGPL

1.13. Lĩnh vực thực hiện TGPL

1.14. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN HIỆN NAY

2.1. Thực trạng pháp luật về TGPL cho Phụ nữ nông thôn

2.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống PL về TGPL

2.3. Thực trạng các quy định TGPL và thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn hiện nay

2.4. Thực tiễn thực hiện TGPL cho Phụ nữ nông thôn

2.5. Kết quả TGPL cho Phụ nữ nông thôn trong những năm gần đây

2.6. Những cản trở, khó khăn trong hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn

2.7. Những bất cập và thách thức trong hoạt động TGPL còn tồn tại

2.8. Đánh giá chung về việc thực hiện TGPL cho phụ nữ nông thôn

2.9. Kết quả triển khai hoạt động TGPL

2.10. Công tác hoạt động TGPL cho phụ nữ nông thôn

2.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ Ở NÔNG THÔN

3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.2. Một số giải pháp cụ thể

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn Tại Việt Nam

Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn là một vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ. Tại Việt Nam, phụ nữ nông thôn thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật và dịch vụ pháp lý. Điều này dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Hệ thống pháp luật hiện hành đã có những quy định nhằm hỗ trợ phụ nữ nông thôn, nhưng thực tế vẫn còn nhiều bất cập. Việc nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận pháp luật cho phụ nữ nông thôn là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của họ được bảo vệ.

1.1. Khái Niệm Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn được hiểu là các hoạt động hỗ trợ pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ sống tại các vùng nông thôn. Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin, tư vấn pháp luật, và đại diện pháp lý khi cần thiết.

1.2. Mục Đích Của Trợ Giúp Pháp Lý Đối Với Phụ Nữ Nông Thôn

Mục đích chính của trợ giúp pháp lý là giúp phụ nữ nông thôn nhận thức rõ hơn về quyền lợi của mình, từ đó có thể tự bảo vệ và yêu cầu thực thi quyền lợi hợp pháp. Điều này không chỉ giúp họ trong các vấn đề cá nhân mà còn góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

II. Thực Trạng Pháp Luật Về Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Thực trạng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều quy định đã được ban hành, nhưng việc thực thi còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều phụ nữ nông thôn vẫn chưa biết đến quyền lợi của mình và các dịch vụ trợ giúp pháp lý. Hệ thống pháp luật cần được cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng này.

2.1. Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành Về Trợ Giúp Pháp Lý

Các quy định pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn bao gồm Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.

2.2. Thực Tiễn Thực Hiện Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Thực tiễn cho thấy rằng nhiều phụ nữ nông thôn vẫn chưa tiếp cận được các dịch vụ trợ giúp pháp lý. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

III. Những Thách Thức Trong Hoạt Động Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn đang đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này không chỉ đến từ hệ thống pháp luật mà còn từ nhận thức của cộng đồng và bản thân phụ nữ nông thôn. Việc nâng cao nhận thức và cải thiện hệ thống pháp luật là cần thiết để giải quyết những vấn đề này.

3.1. Nhận Thức Pháp Luật Của Phụ Nữ Nông Thôn

Nhiều phụ nữ nông thôn chưa có đủ kiến thức về pháp luật, dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình. Cần có các chương trình giáo dục pháp luật phù hợp để nâng cao nhận thức cho họ.

3.2. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Dịch Vụ Pháp Lý

Phụ nữ nông thôn thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ pháp lý do khoảng cách địa lý và thiếu thông tin. Cần có các giải pháp để cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ này.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Để nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện hệ thống pháp luật, tăng cường giáo dục pháp luật và nâng cao năng lực cho các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

4.1. Cải Thiện Hệ Thống Pháp Luật

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn.

4.2. Tăng Cường Giáo Dục Pháp Luật

Các chương trình giáo dục pháp luật cần được triển khai rộng rãi, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, để nâng cao nhận thức cho phụ nữ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Trợ Giúp Pháp Lý

Nghiên cứu về trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp cụ thể có thể mang lại kết quả tích cực. Các mô hình trợ giúp pháp lý thành công cần được nhân rộng để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ nông thôn.

5.1. Mô Hình Trợ Giúp Pháp Lý Thành Công

Một số mô hình trợ giúp pháp lý thành công đã được triển khai tại các địa phương, giúp phụ nữ nông thôn tiếp cận thông tin và dịch vụ pháp lý một cách hiệu quả.

5.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Trợ Giúp Pháp Lý

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận pháp luật đã giúp nhiều phụ nữ nông thôn bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Trợ Giúp Pháp Lý Cho Phụ Nữ Nông Thôn

Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn là một vấn đề cần được quan tâm và đầu tư. Tương lai của hoạt động này phụ thuộc vào sự cải thiện của hệ thống pháp luật và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ nông thôn được bảo vệ một cách hiệu quả.

6.1. Tương Lai Của Trợ Giúp Pháp Lý Tại Việt Nam

Tương lai của trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào sự cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như sự tham gia của các tổ chức xã hội.

6.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực ti n thực hiện pháp luật TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho phụ nữ ở nông thôn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, mục đích, nội dung và hình thức Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 1. Khái niệm TGPL cho phụ nữ nông thôn ở Việt Nam 1.

Khái niệm TGPL Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” là một cụm t đƣợc sử dụng phổ biến trong các tài liệu ở nƣớc ta t năm 1995. Đó là khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động TGPL tại Việt Nam. Theo t điển tiếng Việt “trợ giúp là sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [29]; “trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một ngƣời hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công” [11]; “trợ giúp là giúp đỡ, và giúp đỡ lại đƣợc giải thích là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì đó mà ngƣời ấy đang cần” [17]. Thuật ngữ “pháp lý” đƣợc hiểu là “lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát, pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ” [27].

Trong điều kiện hiện nay thì pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nƣớc ban hành để quản lý xã hội. Mọi ngƣời dân phải lấy pháp luật làm chuẩn mực để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nếu theo hƣớng tiếp cận này thì “TGPL chính là thực hiện một dịch vụ pháp lý mi n phí hoặc giảm phí so với giá trị thực tế cho loại đối tƣợng đang cần sự giúp đỡ pháp lý mà họ không tự thực hiện đƣợc” [12]. TGPL xuất phát t lý luận về nhân quyền và bảo đảm nhân quyền, nhƣ một biện pháp bảo đảm tƣ pháp dành cho ngƣời không có điều kiện (về kinh tế, sức khỏe, kiến thức hiểu biết.) để tiếp cận và sử dụng các quy định pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, để mỗi ngƣời đều có quyền bình đẳng trƣớc pháp luật, nhất là trong điều kiện tiếp cận công lý và tổng quát chung TGPL mà chính sách Nhà nƣớc mang đến là: kinh tế, pháp lý; xã hội và nhân đạo.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính kinh tế, pháp lý trong TGPL đƣợc thể hiện: TGPL dành cho những đối tƣợng không có khả năng về mặt tài chính hoặc có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, họ gần nhƣ không thể thậm chỉ là bất lực trong việc chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Nhà nƣớc đảm bảo hoạt động này mang tính quy định trong hệ thống pháp luật, là “trách nhiệm của nhà nƣớc”. Tính xã hội và nhân đạo đó là tạo cơ hội cho những ngƣời có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn cần phải nhận thức pháp luật, bình đẳng với ngƣời khác trong việc sử dụng, tiếp cận pháp luật nhằm xoá đói, giảm nghèo nâng cao trình độ dân trí. Đồng thời c ng huy động đƣợc sự tham gia rộng rãi của các lực lƣợng xã hội có hiểu biết về pháp luật, có trình độ pháp luật cơ bản hoặc chuyên sâu vào hoạt động TGPL để bảo đảm cho những hoạt động TGPL đạt đƣợc hiệu quả trên thực tế.

Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua bản Các Nguyên tắc và hƣớng d n tiếp cận TGPL trong tƣ pháp hình sự, với 14 nguyên tắc và 18 hƣớng d n. Theo đó, nguyên tắc 1 thì TGPL đƣợc th a nhận là thành tố cơ bản trong hệ thống tƣ pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hƣởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tƣ pháp hình sự. Nhà nƣớc cần bảo đảm quyền đƣợc TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể. Hoạt động TGPL rất cần thiết trong đời sống của con ngƣời hiện nay, bên cạnh mục đích là đảm bảo cho việc xây dựng Nhà nƣớc Pháp quyền mà TGPL mang tầm quan trọng nhƣ một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý.

Xu hƣớng phát triển chung của các nƣớc trên thế giới đều mong muốn cung cấp cho ngƣời đƣợc TGPL dịch vụ có chất lƣợng một cách kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần bảo đảm quyền con ngƣời trong tiếp cận công lý. Khái niệm TGPL tại Việt Nam lần đầu tiên đƣợc quy định tại Điều 3, Luật TGPL năm 2006, nhƣ sau: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý mi n phí cho ngƣời đƣợc TGPL theo quy định của Luật này, giúp ngƣời đƣợc TGPL bảo vệ quyền, lợi ích 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ng a, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [20]. Điều 2, Luật TGPL năm 2017, quy định: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý mi n phí cho ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trƣớc pháp luật” [21], thêm vào đó khoản 1 Điều 4 Luật này quy định “Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nƣớc” [21]. Nhƣ vậy, so với khái niệm về trợ giúp pháp lý của Luật Trợ giúp pháp lý 2006, thì Luật Trợ giúp pháp lý 2017 đã quy định theo hƣớng phản ánh đúng nội hàm bản chất của trợ giúp pháp lý là một dịch vụ pháp lý mi n phí, giúp đỡ về mặt pháp lý cho ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách, mang bản chất Nhà nƣớc và phản ánh tính nhân đạo xã hội sâu sắc.

Ở một số nƣớc trên Thế giới tùy thuộc vào quy định và điều kiện tình hình mỗi nƣớc sẽ đƣa ra các khái niệm về TGPL khác nhau, nhƣng đều mang nội hàm chung về việc hỗ trợ mi n phí TGPL cho công dân nƣớc mình khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn về tài chính và không thể chi trả cho hoạt động TGPL cá nhân. Điển hình nhƣ: Ở Anh, theo t điển Pháp luật Anh: “TGPL là một dạng phúc lợi xã hội do Nhà nƣớc bảo đảm để những những ngƣời không có khả năng trả tiền cho luật sƣ (thƣờng là các bị cáo hình sự) đều có thể tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ pháp lý mi n phí” [36, tr. (đƣợc dịch bởi t điển pháp luật Anh bởi nhà xuất bản Wiley 2006 tr.170) Ở Úc, quy định của mỗi Bang có sự đặc thù, Điều 5 Luật TGPL năm 1997 của bang Queensland (Úc) nêu ra ý nghĩa của việc TGPL nhƣ sau: 1) TGPL (legal assistance) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tư vấn pháp luật miễn phí hoặc thanh toán số tiền ít hơn chi phí cung cấp dịch vụ; 2) Dịch vụ có thể được cung cấp bởi luật sư Trợ giúp pháp lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ Trợ giúp pháp lý [39]. Tại Bang Victoria (Úc), TGPL nghĩa là: (a) Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; (b) Bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; (c) Các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của TGPL, bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, tư vấn pháp luật và hỗ trợ pháp luật (Điều 2 Mục I Luật TGPL bang Victoria năm 1978 của Australia) [38].

Ở Moldova, điều 2 Luật TGPL Moldova năm 2007 quy định: “TGPL của Nhà nước là việc cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật TGPL từ nguồn kinh phí TGPL cho người không có đủ tiền để trả và người đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này” [37]. Nhƣ vậy, t một số khái niệm TGPL ở một số Quốc gia trên thế giới, tác giả luận văn chỉ ra bản chất của TGPL của Nhà nƣớc ta hiện nay nhƣ sau: Thứ nhất: TGPL hƣớng tới giúp đỡ về mặt pháp lý cho ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý: mục đích giúp đỡ về mặt pháp lý cho những đối tƣợng yếu thế trong xã hội, bị thiệt thòi về kinh tế, tinh thần và thể chất trong xã hội. Luôn cần Nhà nƣớc và xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là giúp đỡ trong việc tiếp cận và sử dụng pháp luật. Vì pháp luật là một công cụ hữu hiệu để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Trên thực tế, những ngƣời đƣợc TGPL theo quy định thƣờng là những ngƣời bị hạn chế thực hiện các quyền và nghĩa vụ vì họ không có điều kiện tiếp cận với các tiện ích xã hội c ng nhƣ kiến thức pháp luật. Do đó, cơ hội để họ biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình bị hạn chế. Thứ hai, TGPL mang bản chất nhân đạo sâu sắc, không trái với đạo đức xã hội: TGPL là một trong những chính sách mang tính nhân đạo, nhân văn của Đảng và Nhà nƣớc nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật và thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Giúp ngƣời đƣợc trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ng a, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Nội dung của TGPL không đƣợc trái với đạo đức xã hội, bởi lẽ, đạo đức xã hội là chuẩn mực chung đƣợc công nhận và tự giác tuân thủ. TGPL có phù hợp với đạo đức xã hội, thì nội dung TGPL mới đƣợc cộng đồng nói chung và ngƣời đƣợc TGPL nói riêng chấp thuận 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ