phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc áp dụng trò chơi học tập vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 3. Thiết kế và sử dụng một số trò chơi học tập trong dạy học Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Thực nghiệm sư phạm.
8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÁP DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP VÀO DẠY HỌC MÔN TNXH LỚP 3 1. Những định hướng đổi mới Phương pháp dạy học Trong giáo trình “Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội” các tác giả đã đề cập đến các định hướng đổi mới phương pháp dạy học sau [4]: Phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức: Tính tích cực là đặc điểm vốn có của con người. Tính tích cực ở đây được dùng trái nghĩa với tính thụ động chứ không phải trái nghĩa với tính tiêu cực. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu.
Nhu cầu của con người luôn là động cơ để thúc đẩy con người. Vì vậy khi con người có nhu cầu nhận thức thì nhu cầu này sẽ trở thành động cơ kích thích HS học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Tính tích cực trong học tập được biểu hiện ở các đặc điểm như: Hăng hái trả lời câu hỏi của GV, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi về những vấn đề chưa hiểu rõ, chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng đã học vào cuộc sống, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nản trước khó khăn. Tính tích cực được thể hiện ở các mức độ khác nhau như: + Bắt chước: Học sinh gắng sức làm theo mẫu của giáo viên hay bạn bè.
+ Tìm tòi: HS độc lập giải quyết vấn đề, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề. + Sáng tạo: HS tìm ra cách giải quyết mới độc đáo. Để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh, trong dạy học giáo viên nên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển hoạt động học tập, còn học sinh phải thể hiện được vai trò chủ thể của hoạt động học tập của mình. Kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các phương pháp học tập khác nhau sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở: 9 Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng.
Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Vì vậy cần căn cứ vào điều kiện cụ thể về đối tượng học sinh, về cơ sở vật chất cũng như đặc điểm của từng địa phương.để phối hợp các PPDH cho hiệu quả. Sử dụng phối hợp các PPDH khác nhau nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của từng phương pháp nếu được sử dụng một cách riêng lẻ. Phát triển khả năng tự học ở học sinh: Với lượng thông tin ngày càng nhiều và các nguồn thông tin ngày càng đa dạng, dễ tiếp cận, nhà trường cần coi trọng việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự học,tăng cường các hoạt động tự tìm kiếm kiến thức hay vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống.
Tuy nhiên khả năng tự học đó cần xuất phát từ nhu cầu nhận thức, từ hứng thú và mong muốn với việc tìm hiểu, khám phá thế giới. Cùng với việc tạo sự hứng thú ở học sinh cần được bồi dưỡng cách học, phương pháp tự học sao cho hiệu quả. Vì vậy phương pháp dạy học cần khơi dậy ở học sinh mong muốn và hứng thú nhận thức, cách học hay phương pháp tự học để các em luôn tìm tòi biết cách tìm tòi để timg ra những giải đáp cho thắc mắc của mình, thỏa mãn nhu cầu nhận thức ngày càng tăng, vận dụng các kiến thức đa học vào cuộc sống và hình thành năng lực học tập suốt đời. Kết hợp hoạt động của các nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân: Trong dạy học, tập thể học sinh được sử dụng như là môi trường và phương tiện để tổ chức quá trình học tập tích cực cho từng cá nhân.
Học tập tập thể có lợi thế cho mỗi cá nhân như: Tạo ra sự ganh đua giữa các cá nhân; Tạo ra nhiều cách nghĩ, nhiều phương án hành động; HS có thể hỗ trợ nhau, đóng góp những ý kiến chung, những ý kiến riêng; HS có thể chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hình thức cùng bàn bạc, tranh luận, tham gia hoạt động. Hình thành ở học sinh kĩ năng hoạt động tập thể và tự khẳng định mình thông qua tập thể. 10 PPDH phải quan tâm đến hứng thú, xu hướng và khả năng của từng cá nhân để phát huy thế mạnh và khai thác lợi thế của tập thể nhằm phát triển từng cá nhân. Tạo ra một môi trường học tập thân thiện để học sinh được tự do, bình đẳng trong học tập: Định hướng này có liên quan mật thiết với việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Vì đây chính là điều kiện cần thiết để tính tích cực, chủ động của học sinh được thực hiện. Giáo viên cần tạo một không khí học tập thân thiện để học sinh được tự do suy nghĩ, được tôn trọng, khuyến khích khi phát biểu ý kiến và tham gia vào các hoạt động học tập, được tự đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn để tự điều chỉnh quá trình học tập. Ví dụ: Giáo viên không nhận xét một cách áp đặt “Đúng” hay “Sai” khi HS phát biểu; cần nhấn mạnh vào mặt đạt được, mặt tốt của học sinh để động viên khuyến khích các em phấn đấu sửa chữa cái chưa đạt, cái chưa tốt; tạo cơ hội và thời gian, khuyến khích học sinh độc lập suy nghĩ, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi; tôn trọng ý kiến của người khác và các ý kiến khác. Tăng cường kĩ năng thực hành: Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học.
Đổi mới PPDH theo hướng này có nghĩa là tạo cơ hội cho học sinh được: - Giải thích thực tiến bằng các kiến thức đã học. - Thực hành, trao đổi, bàn bạc, phối hợp làm việc trong nhóm. - Thao tác hành động thực tế. - Học qua tình huống thực tiễn của cuộc sống.
- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. - Rèn luyện các kĩ năng sống đa dạng. 11 Tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học: Với sự phát triển không ngừng của khoa học và kĩ thuật, ngày càng có nhiều phương tiện dạy học mới với các chức năng không hạn chế có thể sử dụng trong dạy học. Các phương tiện dạy học hiện đại như các phương tiện nghe nhìn, các phần mềm dạy học với những khả năng vượt trội ngày càng được sử dụng rộng rãi.
Việc sử dụng các phương tiện này đòi hỏi sự thay đổi căn bản các phương pháp dạy và học. Đổi mới cách đánh giá, nhận xét học sinh: Đánh giá nhận xét không chỉ nhằm sáng tỏ kết quả và năng lực học tập của học sinh mà còn giúp GV điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình cho phù hợp. Đối với học sinh, việc đánh giá nhận xét giúp các em điều chỉnh phương pháp học tập, động viên khuyến khích học sinh hoặc giảm hứng thú học tập của các em. Vì vậy, cách nhận xét đánh giá học sinh có tác động quyết định đến phương pháp dạy và học.
Việc đánh giá nhận xét học sinh trước đây thường coi trọng kiến thức mà coi nhẹ kĩ năng và thái độ, coi nhẹ khả năng sáng tạo, chưa đảm bảo tính hệ thống và đa dạng, chưa tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá bản thân và người khác. Như vậy việc đổi mới đánh giá nhận xét học sinh cần được hướng đến tính toàn diện, coi trọng đầy đủ các mục tiêu dạy học đề ra. Ngoài ra cũng cần làm cho sự đánh giá của người thầy trở thành quá trình tự đánh giá của trò để nâng cao năng lực tự đánh giá của học sinh. Việc đánh giá của giáo viên cũng cần nhấn mạnh vào mặt thành công, mặt tốt của học sinh để động viên khuyến khích học sinh vươn lên trong học tập.
Cuối cùng cần đánh giá nhận xét một cách có hệ thống, đa dạng để có được các kết quả khách quan, chính xác [4]. Mục tiêu và nội dung học tập môn Tự nhiên và Xã hội Tự nhiên xã hội là môn học về môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, về cơ thể và sức khỏe con người. Trong chương trình tiểu học, mục tiêu môn học được đề cập đến như sau: Môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp Tiểu học nhằm giúp học sinh đạt được [3]: 12 - Một số kiến thức cơ bản, ban đầu về: + Con người và sức khỏe (cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn thường gặp). + Một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội.
- Một số kỹ năng ban đầu: + Chăm sóc sức khỏe bản thân và phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn. + Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi và diễn đạt những hiểu biết của mình về sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội. - Một số thái độ và hành vi: + Tự giác thục hiện các qui tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng. + Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương.
Nội dung môn Tự nhiên và Xã hội được chia thành 3 chủ đề đó là: Con người và sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên. Ở chủ đề Con người và Sức khoẻ học sinh được tìm hiểu về các cơ quan: Vận động, Tuần hoàn, Hô hấp, Thần kinh. cách vệ sinh phòng trừ các bệnh liên quan tới các cơ quan đó. Ở chủ đề Xã hội học sinh được tìm hiểu thêm, sâu hơn về gia đình và các thế hệ trong gia đình.
Một số hoạt động ở trường. Đặc biệt học sinh được khám phá các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, thông tin liên lạc trong tỉnh và các nước. Học về làng quê và đô thị. Ở chủ đề Tự nhiên học sinh được tìm hiểu về thực vật, động vật, về mặt trời, mặt trăng và các hành tinh trong hệ mặt trời song tất cả mới chỉ dừng lại ở kiến thức sơ đẳng, gần gũi thực tế.