Chương 1: Cơ sở lý luận của việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các quốc gia tham gia TPP trong bối cảnh thực thi Hiệp định Chương 3: Giải pháp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các quốc gia tham gia TPP Do kinh nghiệm, thời gian và kiến thức còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi còn những vấn đề chưa được hoàn chỉnh, rất mong nhận đươc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo dể bài viết được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 1. Tổng quan mặt hàng gạo và hoạt động xuất khẩu gạo 1. Vị trí của mặt hàng gạo trong nền kinh tế thế giới 1.
Nhu cầu gạo của thị trường thế giới Xã hội ngày càng phát triển với những tiến bộ không ngừng, nhu cầu của con người từ đó cũng trở lên đa dạng và phong phú hơn, nhưng nhu cầu về ăn mặc vẫn là nhu cầu cơ bản nhất không thể loại bỏ. Con người không thể ngừng chi tiêu để bổ sung lương thực mỗi ngày. Vì thế, một trong những vai trò quan trọng của mặt hàng gạo chính là giá trị lương thực cho con người. Lương thực là một vấn đề quan trọng, nó giúp nuôi sống hơn 7,24 tỷ người trên thế giới theo Viện nghiên cứu dân số Hoa Kỳ (PRB, 2014).
Trên thế giới có hơn 50 nghìn loài thực vật có thể ăn được, nhưng chỉ có vài loài trong đó được coi là cây lương thực chính; gạo là thực phẩm chính của người dân châu Á cũng như ngô của Nam Mỹ, kê của Châu Phi hay lúa mì của Bắc Mỹ và châu Âu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Sự phân bố dân cư không đồng đều và sự khác nhau về điều kiện khí hậu, đất đai đã dẫn đến sự khác nhau trong việc lựa chọn thực phẩm chính của các khu vực. Chỉ tính riêng khu vực châu Á với 4,35 tỷ người (PRB, 2014), chiếm 60,11% dân số thế giới thì đã có tới hơn 90% lượng gạo của thế giới được trồng và tiêu thụ ở đây. Như vậy, có thể nói gạo chính là cây lương thực quan trọng nhất, là nguồn thực phẩm cho khoảng một nửa dân số thế giới.
An ninh lương thực luôn một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Theo số liệu trong báo cáo Tình trạng an ninh lương thực thế giới (FAO, 2014c), hiện nay trên thế giới có khoảng 805 triệu người thường xuyên bị thiếu lương thực, tập trung chủ yếu ở các nước kém và đang phát triển. Số người chết vì đói nhiều hơn số người chết do AIDS, sốt rét và bệnh lao cộng lại. Nạn đói nghèo sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng như dịch bệnh, cướp bóc, thất nghiệp, tệ nạn,.
Nếu vấn đề cơm ăn áo mặc của người nghèo được đảm bảo sẽ giúp kinh tế ổn định và phát triển. Gạo được biết là lương thực chính của người nghèo, nên an ninh lương thực gắn liền với hoạt động sản xuất và cung ứng gạo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mức tiêu thụ gạo của thế giới (2010-2015) Đơn vị: Triệu tấn 520 499.1 cho thấy nhu cầu tiêu thụ gạo của thị trường thế giới không ngừng tăng qua các năm. Năm 2010 mức tiêu thụ là 448,11 triệu tấn thì tới năm 2014 là 491,16 triệu tấn, tăng thêm 43,05 triệu tấn trong 5 năm, trung bình mỗi năm tăng thêm 8,61 triệu tấn.
Năm 2015, FAO dự báo nhu cầu sử dụng gạo có thể lên tới 499,86 triệu tấn, tăng 1,77% so với năm 2014. Với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng như vậy, càng khẳng định vị trí quan trọng không thể thay thế của gạo trong đời sống hàng ngày. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu lương thực cho con người, sự phát triển nông nghiệp sản xuất lúa gạo còn đem lại việc làm cho người lao động, cung cấp nguyên liệu cho ngành Công nghiệp và sử dụng những máy móc, tiến bộ khoa học kỹ thuật của Công nghiệp. Bên cạnh đó, gạo còn có giá trị thương mại cao.
Những tiến bộ khoa học và kinh nghiệm canh tác lâu năm đã giúp cho sản lượng gạo tăng lên đáng kể. Nhờ đó một số quốc gia trở lên dư thừa gạo cho xuất khẩu. Mặt khác một số quốc gia do không có điều kiện tự nhiên thuận lợi, không có kinh nghiệm canh tác và nguồn nhân lực cho trồng trọt nên nhu cầu nhập khẩu gạo là rất lớn. Như vậy, gạo là vấn đề mà các quốc gia luôn quan tâm, bởi nó giúp ổn định đời sống xã hội, đem lại việc làm và còn góp phần phát triển kinh tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khối lượng thương mại gạo của thị trường thế giới Từ lâu, gạo đã được canh tác ở tất cả các Châu lục. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng có điều kiện phát triển sản xuất lúa gạo để tự cung ứng đủ nhu cầu lúa gạo trong nước. Có nhiều lý do khác nhau dẫn tới việc các quốc gia phải nhập khẩu gạo.
Do dân số đông khiến cho sản xuất trong nước không đáp ứng đủ, do điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng, sinh thái hay tình hình quốc gia bất ổn định, thường xuyên xảy ra chiến tranh, nội chiến kéo dài,… không phù hợp trồng lúa, do trình độ sản xuất lạc hậu, không có kinh nghiệm canh tác nên mặc dù áp dụng khoa học kỹ thuật nhưng không giúp nâng cao được năng suất canh tác. Hoặc do mục tiêu phát triển quốc gia, thường là các nước phát triển muốn tập trung nguồn lực cho ngành công nghiệp.2: Khối lƣợng thƣơng mại gạo của thế giới (2010-2015) Đơn vị: triệu tấn 45 40 35 30 25 20 2010 2011 2012 2013 2014 2015 (Dự báo) (Nguồn : FAO, 2015) Hình 1.2 thể hiện khối lượng thương mại gạo của các quốc gia trên thế giới. Từ năm 2010 tới năm 2012, khối lượng thương mại của gạo tăng từ 31,31 triệu tấn (năm 2010) lên 38,74 triệu tấn (năm 2012), tức là tăng thêm 7,43 triệu tấn trong 3 năm, tương ứng tăng trung bình 2,48 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, năm 2013, khối lượng này lại giảm xuống còn 37,16 triệu tấn, giảm 1,58 triệu tấn.
Nguyên nhân gây sụt giảm được FAO lý giải là “do nhu cầu nhập khẩu gạo tại một số quốc gia như ở vùng Viễn Đông (Indonesia, Philippines) và khu vực Tây Phi (Nigeria, Senegal) giảm, nhờ sản lượng bội thu tại hầu hết các nước này, và một số nước đang thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hiện các chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm có thể tự cung tự cấp nguồn gạo”. Tới năm 2014, đánh dấu mức tăng vượt bậc, tăng lên 42,39 triệu tấn, tăng 14,07% so với năm 2013. Tuy nhiên, FAO ước tính thương mại gạo năm 2015 sẽ giảm nhẹ xuống còn 41,39 triệu tấn, giảm 2,36% so với năm 2014. Mặc dù nhu cầu tiêu thụ gạo được dự báo sẽ tiếp tục tăng, nhưng khối lượng thương mại lại giảm.
Có thể thấy, số liệu thương mại của gạo chưa thực sự ổn định. Với những vai trò quan trọng của gạo không chỉ đối với đời sống, sản xuất mà còn đối với nền kinh tế, nhiều quốc gia đang cố gắng tự chủ nguồn cung gạo để phục vụ nhu cầu trong nước, tránh phụ thuộc vào hoạt động nhập khẩu. Khối lƣợng xuất khẩu gạo của một số nƣớc (2011-2014) Đơn vị: triệu tấn STT Quốc gia Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 1 Ấn Độ 4,64 10,25 10,48 10,90 2 Thái Lan 10,65 6,95 6,72 10,97 3 Việt Nam 7,00 7,72 6,70 6,33 4 Pakistan 3,41 3,40 4,13 3,40 5 Hoa Kỳ 3,23 3,30 3,29 3,04 (Nguồn: USDA, 2015) Bảng 1.1 thể hiện sản lượng xuất khẩu gạo của 5 quốc gia dẫn đầu về khối lượng gạo xuất khẩu. Có thể thấy năm 2012, Ấn Độ vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và từ 2012 đến 2014, khối lượng xuất khẩu gạo của Ấn Độ luôn đạt trên 10 triệu tấn.
Sau khi để mất ngôi đầu thì tới năm 2014, Thái Lan đã lấy lại được vị trí dẫn đầu của mình với việc xuất khẩu 10,97 triệu tấn gạo, tăng 63,24% so với năm 2013. Từ năm 2013, Việt Nam không còn giữ được vị trí thứ 2 mà chủ yếu xếp thứ 3 về xuất khẩu gạo, khối lượng xuất khẩu cũng có xu hướng giảm dần, năm 2014 chỉ còn 6,33 triệu tấn, giảm 5,52% so với năm 2013. Pakistan và Mỹ chủ yếu duy trì khối lượng xuất khẩu khoảng 3 triệu tấn gạo mỗi năm, khối lượng này so với 3 quốc gia dẫn đầu vẫn còn khá khiêm tốn. Mặc dù Trung Quốc dẫn đầu về sản lượng gạo được sản xuất, năm 2014 ước tính khoảng 141,7 triệu tấn (FAO, 2014a), nhưng lại luôn nằm trong nhóm nước chính phải nhập khẩu gạo.
Nguyên nhân là do mật độ dân số đông, nguồn cung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Châu Phi và Vùng Viễn Đông cũng là hai khu vực thường xuyên phải nhập khẩu gạo. Đặc trưng của mặt hàng gạo và hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam 1. Đặc điểm của mặt hàng gạo Việt Nam Lúa gạo có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của người dân Việt Nam và là lương thực chính trong bữa ăn.
Nó cung cấp tinh bột, protein, lipit, vitamin,. nhằm đảm bảo nguồn năng lượng cần thiết. Trung bình mỗi ngày người Việt ăn từ 2-3 bữa. Theo báo cáo điều tra dân số và nhà ở năm 2014 (Tổng cục thống kê, 2014), dân số Việt Nam đạt 90,49 triệu người, với tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 2009 là 1,06%.
Với lượng dân cư tăng hàng năm thì nhu cầu lương thực để đáp ứng cho đời sống là rất lớn. Trước những năm 1990, Việt Nam còn nằm trong nhóm những nước đói nghèo, sản lượng gạo không đủ cung ứng cho nhu cầu trong nước. Sau giai đoạn đó, Việt Nam mới có bước chuyển mình tham gia vào thị trường thương mại gạo thế giới. Những đặc điểm nổi bật của lúa gạo và hoạt động canh tác lúa gạo của Việt Nam là: Lúa gạo là cây lương thực ngắn ngày, có tính thời vụ.
Cây lúa sinh trưởng, phát triển trong khoảng 3-4 tháng và được trồng theo từng vụ với thời điểm gieo cấy, thu hoạch khác nhau. Vụ lúa ở Việt Nam phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình khí hậu và thời tiết. Sản xuất lúa được phân bố qua 3 vụ chính trong năm. Vụ đông xuân, lúa được thu hoạch từ tháng 2 đến tháng 4, có sản lượng lớn nhất trong năm, chất lượng lúa tốt nhất.