Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan về kho bạc Nhà nước 1.1 Khái niệm về Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước là cơ quan tài chính thực hiện việc quản lý ngân quỹ nhà nước. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường , ngân sách nhà nước (NSNN) không chỉ đóng vai trò là nguồn vốn tài chính đảm bảo các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước , an ninh quốc phòng và các mục đích khác để củng cố chính quyền nhà nước , mà còn có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Do đó KBNN ngày nay được hiểu là một hệ thống tổ chức có nhiệm vụ chấp hành , đôn đốc việc chấp hành các hoạt động tài chính của nhà nước , giúp chính quyền quản lý quỹ tiền tệ , tài sản của nhà nước ; chịu trách nhiệm giải quyết các khoản chi tiêu công , tập trung các khoản thu thuế và thu khác về quỹ NSNN ; huy động vốn dưới hình thức phát hành công trái , trái phiếu chính phủ nhằm bù đắp các khoản bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển. KBNN có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý và điều hành NSNN.
KBNN là một công cụ quản lý tài chính nhà nước sắc bén trong các khâu huy động tập trung và phân phối tiết kiệm , có hiệu quả các nguồn lực tài chính của Nhà nước. KBNN là một công cụ đắc lực của Nhà nước góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia.2 Sự ra đời của hệ thống Kho bạc Nhà nước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với sự ra đời của Chính phủ Cách mạng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 28-8-1945, ngành Tài chính của nước Việt Nam chính thức được thành lập. Nhiệm vụ cấp 5 bách của ngành tài chính lúc này là chuẩn bị tiền để giải quyết các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước và quân đội. Lúc này số tiền mặt tồn quỹ của Ngân khố Trung ương chỉ còn trên một triệu đồng tiền Đông dương, trong đó phân nữa là tiễn rách chờ tiêu hủy.
Trong Tổng khởi nghĩa Tháng tám năm 1945, ta lại không chiếm ngân hàng Đông Dương nên không độc quyền nắm giữ ngân quỹ dự trữ của nhà băng. Thêm vào đó, Chính phủ Cách mạng đã tuyên bố bãi bỏ các sắc thuế cũ (thuế thân, thuế chợ, thuế đò), giảm 25% mức địa tô; đồng thời các sắc thuế mới chưa được ban hành,.vì vậy tình hình tài chính – tiền tệ lại càng thêm khó khăn và phức tạp. Ngân khố quốc gia lúc bấy giờ chưa chính thức thành lập nhưng nó là một bộ phận công việc cực kỳ quan trọng của Bộ Tài chính nói riêng và của Chính phủ cách mạng nói chung. Những người làm công tác ngân khố được giao nhiệm vụ trực tiếp đối phó và giải quyết tình hình nước sôi lửa bỏng trên mặt trận tài chính và ngân sách quốc gia.
Một mặt, Chính phủ kêu gọi lòng yêu nước tự nguyện đóng góp của nhân dân: xây dựng “ Quỹ độc lập”, phát động “ Tuần lễ vàng”., mặt khác, giao cho Bộ Tài chính và Ngân khố Trung ương thực hiện ngay các giải pháp cấp bách về tài chính và tiền tệ. Một là, căn cứ vào hợp đồng cam kết giữa chính quyền cũ và ngân hàng Đông Dương, trên danh nghĩa là đại diện của Chính phủ cách mạng, Ngân khố Trung ương yêu cầu Ngân hàng Đông Dương xuất tiền cho Chính phủ chi tiêu. Trước ưu thế Cách mạng, Ngân hàng Đông Dương buộc phải chấp thuận. Những khoản tài trợ hợp lệ và cực kỳ quan trọng này kéo dài trong gần hai tháng ( từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 10 năm 1945 ) với tổng số tiền 22 triệu đồng Đông Dương.
Hai là, trong kho nhà in Viễn Đông ở Yên Phụ ( hà Nội ) còn một số tiền hào lẽ đã in xong nhưng chưa nhập kho Ngân khố quốc gia. Ngân khố Trung ương đã đến kiểm tra và thu về để sử dụng. Số tiền này tuy không lớn nhưng đã giúp giải quyết một phần khó khăn cho ngân sách quốc gia. 6 Ba là vào đầu tháng 8 năm 1945, Phát xít Nhật đã rút tiền ở Ngân hàng Đông Dương 30 triệu đồng và giao cho một số tỉnh lớn ở đồng bằng Bắc Bộ mua thóc để dự trữ, vì tổng khởi nghĩa bùng nổ, nên nhiều tỉnh chưa mua hết.
Nay có lệnh thu hồi của Chính phủ, các tỉnh đã nhanh chóng nộp về Ngân khố Trung ương để giải quyết các nhu cầu chung. Nhờ thực hiện các giải pháp nói trên, Ngân khố Trung ương đã góp phần quan trọng giải quyết những khó khăn về tài chính trong những háng ngày đầu của Chính quyền Cách mạng. Tuy nhiên, từ sau ngày Ngân hàng Đông Dương đình chỉ việc tạm ứng tiền cho Ngân khố Trung ương ( 23-10- 1945 ), tình hình tài chính của ta lâm vào tình trạng khó khăn. Nhiệm vụ mới của Ngân khố Trung ương là xây dựng một chế độ mới về tiền tệ độc lập, tự chủ bằng việc gấp rút chuẩn bị phát hành một loại tiền mới, vừa để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cách mạng, vừa tiếp tục đấu tranh với địch trên mặt trận tài chính – tiền tệ.
Ngày 01-12-1945, lợi dụng tình hình tiền hào lẽ của Ngân hàng Đông Dương khan hiếm, Ngân khố Trung ương đã phát hành tiền đúc bằng nhom đầu tiên ( loại 2 hào, 5 hào và 1 đồng ), được nhân dân tín nhiệm và sử dụng. Kết quả bước đầu này đã tạo cơ sở cho Bộ Tài chính tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để cho ra đời đồng tiền chính thức của Chính phủ Cách mạng. Sau khi cân nhắc, lựa chọn địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi, ngày 31-01-1946, Chủ tịch Chính phủ đã ký sắc lệnh giao ủy ban Hành chính Trung Bộ phát hành đồng tiền tài chính ở miền nam Trung Bộ ( từ vĩ tuyến 16 trở vào ). Tờ giấy bạc đầu tiên của ta có in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức lưu hành ở Trung Bộ từ ngày 03-02-1946, sau đó đã lan rộng ra Miền Bắc và Nam Bộ.
Với thắng lợi này, ngày 03-4-1946, Quốc hội đã biểu quyết cho lưu hành giấy bạc Việt Nam trong cả nước. Đây là mọt thắng lợi hết sức quan trọng trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ, góp phần bào đảm các nhu cầu chi tiêu cho cuộc háng chiến trường kỳ của nhân dân ta. Để có một cơ quan chuyên trách giải quyết các vấn đề tài chính, tiền tệ, ngày 29-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 75/SL thành lập Nha 7 Ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính. Nhiệm vụ của Nha Ngân khố lúc này là: Tập trung quản lý các khoản thu về thuế, đảm phụ quốc phòng và công phiếu háng chiến;quản lý và giám sát các khoản cấp phát theo dự toán được duyệt, chịu trách nhiệm về việc xác nhận và thanh toán kinh phí cho các đơn vị được hưởng, làm thủ tục quyết tán với cơ quan tài chính;tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam ( tiền tài chính ) trong phạm vi cả nước;đấu tranh trên mặt trận tiền tệ, thu hẹp và loại bỏ dần phạm vi lưu hành của tiền Đông Dương và các loại tiền khác của địch;tích cực đấu tranh đễ thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu, chi và kế toán đại cương nhằm tăng cường cong tác quản lý tài chính ngay trong điều kiện chiến tranh.
Trong thời gian gần 5 năm tồn tại và hoạt động ( 1946 – 1951 ), Nha Ngân khố Quốc gia đã hoàn thành trọng trách được Chính phủ và Bộ Tài chính giao phó, chủ động phối hợp đề ra chính sách tài chính đúng đắn với những hình thức động viên hợp lý, hợp lòng dân, khuyến khích sự đóng góp tự nguyện của nhân dân nhằm từng bước đưa ngân khố quốc gia thoát khỏi tình trạng khó khăn, nhanh chóng bảo đảm nguồn lực tài chính, giúp Chính phủ cách mạng lâm thời đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, đáp ứng yêu cầu chi tiêu cho các hoạt động của Nhà nước cách mạng: Tổ chức phát hành đồng tiền tài chính lưu hành trong cả nước và các loại tín phiếu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch, lưu thông hàng hoá - tiền tệ của cán bộ và nhân dân vùng mới giải phóng; phát hành công trái và trái phiếu kháng chiến bằng tiền và bằng thóc nhằm huy động sự đóng góp của nhân dân phục vụ nhu cầu sản xuất và chiến đấu, Nha ngân khố Quốc gia đã góp phần quan trọng trong việc từng bước xây dựng một chế độ tài chính - tiền tệ độc lập tự chủ của nền dân chủ cộng hòa non trẻ. Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, một mặt nhằm động viên mọi nguồn lực tài chính, ổn định nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, đồng thời cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý Quỹ ngân sách Nhà nước, năm 1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc 8 gia Việt Nam, đồng thời giải thể Nha Ngân khố và Nha Tín dụng trực thuộc Bộ Tài chính. Việc chuyển cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước từ Bộ Tài chính sang Ngân hàng Quốc gia xuất phát từ những hoàn cảnh đặc biệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như tình hình tài chính - tiền tệ của ta lúc bấy giờ và nhằm giải quyết các yêu cầu sau: Tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Quốc gia trong việc quản lý tiền mặt và giám sát các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước bằng tiền mặt;cho phép Ngân hàng Quốc gia quản lý một khối lượng vốn lớn để cho vay phát triển kinh tế, chủ động điều hòa lưu thông tiền tệ và xử lý các trường hợp mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nước;thực hiện việc giảm nhẹ bộ máy nhà nước, quán triệt chủ trương “ tinh giản”, nhằm tập trung lực lượng bổ sung cho tiền tuyến và quân đội. Để cụ thể hoá chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước, hai tháng sau khi thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1951, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 107/TTg thành lập Kho bạc Nhà nước đặt trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và thuộc quyền quản trị của Bộ Tài Chính.